• thanhanhniem1
  • tranhducphat
  • lailamtoduong1
  • thanhanhniem2
  • vandaptusinh
  • amthat2
  • tinhtoa2
  • lopbatchanhdao
  • ThayTL
  • chanhungphatgiao
  • thanhanhniem3
  • tinhtoa1
  • vandao2
  • tamthuphattu
  • phattuvandao1
  • phattuvandao3
  • huongdantusinh
  • amthat1
  • daytusi
  • benthayhocdao
  • khatthuc1
  • toduongtuyetson
  • quetsan
  • amthat3
  • ttl3
  • ttl1
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Am thất
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Thầy Thông Lạc
In bài này

Nghĩa Từ Nguyên Thủy Chơn Như (Vần L)

Lượt xem: 5489

L

Lạc là duyên của Định (12Duyên) Khi tâm có Định thì phải có Lạc; Tâm có Định mà không có an lạc thì Định đó không phải là Định của Phật giáo. Khi tâm có An Lạc thì thân tâm phải có cảm giác Khinh An nghĩa là thân tâm khi có Định thì thân tâm phải nhẹ nhàng và an ổn. Cho nên (Đức Phật dạy) có Định thì phải có Khinh An, không bao giờ có Định mà không có Khinh An. Định có là Khinh An có, đó là duyên của chúng không thể tách lìa ra được.

Làm cho kiên trì (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) Làm cho kiên trì có nghĩa là khi cổ xe Thân Hành Niệm đã trở thành căn cứ địa thì lúc bấy giờ chúng ta tăng dần thời gian lên từ 1 đến 5 giờ, từ 5 giờ đến 10 giờ, sự tăng thời gian lên như vậy gọi là kiên trì trên pháp Thân Hành Niệm.

Làm cho sung mãn (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) là cho nhuần nhuyễn, làm cho nhịp nhàng, làm cho thành một thói quen từ hành động này chuyển sang những hành động khác một cách tự nhiên không còn thiếu sót một hành động nào, rất đầy đủ trong pháp Thân Hành Niệm. Làm cho sung mãn còn có nghĩa là làm cho khỏe mạnh, làm cho dồi dào năng lượng, tăng cường năng lực.

Làm cho tích tập (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) Làm cho tích tập có nghĩa là tích lũy sự tu tập càng lúc càng kiên cố và chặt chẽ hơn khiến không cho một chướng ngại pháp nào tác động vào thân tâm được. Nếu chỉ cần thiện xảo một chút thì pháp Thân Hành Niệm sẽ linh động tạo thành một nội lực mãnh liệt vô cùng, bền chí huân tập thì tích tụ được tâm ly tham, ly sân, ly si.

Làm chủ (ĐườngVề.5) Con đường tu hành của đạo Phật có bốn giai đoạn làm chủ: 1- Làm chủ cuộc sống (sanh). 2- Làm chủ già (lão). 3- Làm chủ thọ (bệnh). 4- Làm chủ sự hoại diệt (chết).

Làm chủ bệnh (ĐườngVề.5) khi thân có bệnh đau nhức khổ sở, người tu chứng làm chủ bệnh thọ này thì phải ly hỷ trú xả nhập Tam Thiền, từ nơi trạng thái Tam Thiền theo pháp như lý tác ý xả thọ khổ, tức là sau khi trú được xả, tức là nhập Tam Thiền. Khi đã nhập Tam Thiền xong liền xả lạc, xả khổ tức là xả thọ, tức là xả sự đau khổ của thân. Ở đây nên nhớ, phần nhiều bệnh đau của con người đều do tưởng sanh ra bệnh, vì thế khi nhập Tam Thiền đã ly tưởng, do ly tưởng mà tâm không dao động trước các cảm thọ, nên xả cảm thọ rất dễ. Ðó là làm chủ bệnh bằng thiền định. Còn làm chủ bệnh bằng pháp môn Ðịnh Niệm Hơi Thở: Khi thân có bệnh liền nhiếp tâm an trú vào hơi thở rồi dùng pháp như lý tác ý: “Thọ là vô thường, bệnh (nói tên bệnh ra)... ra khỏi thân ta. An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”, khi tác ý xong liền hít thở năm hơi thở rồi lại tác ý lại câu trên. Cứ tu tập như vậy cho đến khi hết bệnh. Còn phương pháp làm chủ bệnh bằng Tứ Thần Túc, thì chỉ cần hướng tâm về thân không bệnh là bệnh hết ngay.

Làm chủ chết (ĐườngVề.5) khi thân suy yếu sắp chết, ta tịnh chỉ hơi thở nhập Tứ Thiền, hướng tâm xả bỏ thân tứ đại nhân quả một cách dễ dàng, không có mệt nhọc, không có đau khổ, không có ngộp thở, chết một cách yên nhàn và thanh thản.

Làm chủ già (ĐườngVề.5) thân hành, khẩu hành, ý hành, tịnh chỉ, tức là tịnh chỉ tầm tứ. Một người tu chứng tới tuổi già tám mươi vẫn quắc thước, đi đứng vững vàng, không run rẩy, không lụm cụm, trí tuệ sáng suốt không lẫn lộn, v.v... đó là làm chủ già.

Làm chủ nghiệp (Tạoduyên) xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh, là xả thọ, đoạn ái, chấm dứt sự đau khổ (còn chấm dứt sự tái sanh luân hồi thì phải thực hiện lậu tận trí.)

Làm chủ nhân quả (Đường Về.7) là làm chủ hành động thân, khẩu, ý của mình, đừng làm khổ mình, khổ người và làm khổ tất cả chúng sanh. Là làm chủ sanh, già, bệnh, chết của mình và cũng chấm dứt luân hồi. Mục đích của đạo Phật là phải làm chủ được tâm, đừng để cho nó sai khiến mình chạy theo dục lạc mà sanh tâm ác, là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ, chỉ có ly dục, ly ác pháp là làm chủ tất cả.

Làm chủ Sanh (ĐườngVề.5)(TrợĐạo) làm chủ cuộc sống, là làm chủ tâm mình. Ví dụ có người chửi mắng mình, mình không chửi mắng lại mà tâm vẫn an vui không giận hờn oán ghét người đó. Khi cuộc sống chúng ta có xảy tai nạn, tranh tụng, ham muốn, thèm khát, sợ hãi, lo toan, v.v... người tu chứng sẽ dùng trí tuệ nhân quả quán xét thì ngay đó tâm sẽ được an ổn không còn buồn lo, sợ hãi, sân hận, v.v... Còn khi khởi tâm ham muốn cái này, cái khác thì người tu chứng dùng trí tuệ Tứ Niệm Xứ quán xét các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã thì tâm ham muốn (tham dục) dừng liền.

Làm chủ sanh tử (Tạoduyên) là làm chủ nghiệp, làm chủ nghiệp là xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh. Xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh là xả thọ, xả thọ tức là đoạn ái, tức là chấm dứt sự đau khổ, vì khi thọ diệt thì ái phải đoạn tận.

Làm chủ sanh tử chấm dứt luân hồi (ĐườngVề.4) là làm chủ nghiệp, làm chủ nghiệp là làm chủ tâm, tức là tâm không tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Làm chủ tâm là tâm phải bất động trước các ác pháp và các cảm thọ tức là tâm không còn dục lậu, hữu lậu vô minh lậu nữa thì mới giải thoát hoàn toàn.

Làm chủ tâm (ĐườngVề.5)(TâmThư.2) tâm bất động trước cảnh sanh, già, bệnh, chết. tức là giải thoát; tức là làm chủ tâm tham, sân, si, mạn, nghi. Làm chủ tâm tham, sân, si, mạn, nghi là không bị chúng sai khiến được, không sai được tức là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Chừng nào tâm hết tham, sân, si, mạn, nghi thì hết độc thoại. Hết độc thoại thì tâm nhập vào Bất động tâm định. Nhập vào Bất động tâm định thì tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng tức là có đầy đủ Tứ Thần Túc. Muốn tu tập làm chủ tâm phải sống đời sống giới luật đức hạnh, nhất là giới hạnh độc cư phải trọn vẹn, rồi dùng tri kiến quét tham, sân, si, mạn, nghi, phải thiện xảo sống tự nhiên, chỉ có tri kiến giải thoát hoạt động, lúc nào cũng quán chiếu theo sát từng hành động thân, miệng, ý. Sống giới luật cần giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh. Giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh là phải thích sống trong giới luật. Thích sống trong giới luật nên tâm dục ly ác pháp, do tâm ly dục ly ác pháp nên tu tập nhập định Bất động rất dễ.

Làm chủ trực tiếp tịnh chỉ các đau khổ của sanh, già, bệnh, chết (ĐườngVề.5) tức là trực tiếp tịnh chỉ các trạng thái đau khổ của sanh, già, bệnh, chết chứ không phải ngăn chặn không cho sanh, già, bệnh, chết hoặc ngăn chặn tai nạn đến với thân này. Thân nhân quả thì phải vay trả những điều thiện ác trước kia đã tạo ra, nên không thể ngăn chặn nhân quả được, tức là dừng nhân quả. Ðạo Phật dạy làm chủ nhân quả, vượt qua nhân quả, chuyển nhân quả, chứ không dạy ngăn chặn và dừng nhân quả, chỉ có làm chủ tâm không tạo thêm nhân quả ác nữa.

Làm như thế nào mới có minh (12Duyên) Phải tin vào PHẬT, PHÁP, TĂNG và GIỚI. Minh được hiện bày thì vô minh không còn nữa. Vô minh diệt thì giải thoát hoàn toàn, con người lúc bấy giờ không còn khổ đau nữa.

Làm thành căn cứ địa (PhậtDạy.2) có nghĩa là khi ôm pháp Thân Hành Niệm phải kết hợp chặt chẽ từ hành động này kế hành động khác liên tục không có một kẻ hở, những hành động ấy phải miên mật kín như tường đồng vách sắt nên hôn trầm, thùy miên, loạn tưởng, hôn tịch, ngoan không và vô ký không xen vào được và cũng không để các cảm thọ như: thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất thọ khổ tác động vào thân tâm được.

Làm thành cổ xe (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) là kết hợp tất cả mọi thân hành nội hay ngoại làm thành một cổ xe. Ở đây có nghĩa là tất cả thân hành ngoại thân hành nội như: Đi, đứng, ngồi, nằm, co tay duỗi chân và hít thở đều kết hợp lại như một vòng tròn bánh xe và khi thực hành giống như bánh xe lăn chung quanh một cái trục. Khi tất cả những thân hành đều được kết hợp một cách chặt chẽ như vậy, thì mới đủ điều kiện để cán nát giặc sanh tử luân hồi, mới thắng được nghiệp lực muôn đời ngàn kiếp.

Làm thành cỗ xe (PhậtDạy.2) có nghĩa là kết hợp tất cả mọi thân hành nội hay ngoại làm thành một cỗ xe, có nghĩa là tất cả thân hành ngoại nội như: đi, đứng, ngồi, nằm, co tay duỗi chân và hít thở đều kết hợp lại như một vòng tròn bánh xe và khi thực hành giống như bánh xe lăn chung quanh một cái trục. Khi cỗ xe đã được thành lập kiên cố thì mới đủ điều kiện để cán nát giặc sanh tử luân hồi, mới thắng được nghiệp lực muôn đời ngàn kiếp.

Lão giáo (LinhHồn) lấy vô vi làm sự sống nên diệt trừ ý thức.

Lắng tai nghe pháp (PhậtDạy.4) là nghe rất kỹ, nghe không bỏ sót một nghĩa nào, một kinh nghiệm nào, nghe chăm chú. Trước khi hành trì pháp thì phải lắng nghe rất kỹ những pháp hành, những hành động tu tập nhờ có lắng nghe kỹ nên mới không tu tập sai pháp.

Lâm tưởng (PhậtDạy.4) là rừng cây chung quanh lầu đài Lộc Mẫu, vì có rừng cây nên còn có những chướng ngại trong tâm.

Lập trường (PhậtDạy.1) nghĩa là thái độ, chỗ đứng nhìn nhận và xử lý. Phật dạy: “Chớ có tin vì đúng theo một lập trường”, có nghĩa là kinh sách có lối lý luận giống như lập trường của anh. Anh có lập trường rất vững, có nghĩa là thái độ, chỗ đứng, nhìn nhận và xét lý rõ ràng, vì vậy dù ai nói gì anh cũng không bỏ lập trường đó. Khi anh có lập trường như vậy thì có những loại kinh sách nói giống như lập trường của anh thì anh tin ngay. Tin như vậy vẫn không đem đến sự lợi ích cho anh, tin như vậy là tà tín, quá chủ quan ở lập trường của mình.

Lậu hoặc (CầnBiết.4) là sự đau khổ, chứ đừng hiểu theo nghĩa của Đại Thừa là rò rỉ. Hay nghĩa phiền não theo tự điển Phật Học Việt Nam là chỉ cho tâm đau khổ thì còn thiếu phần thân. Lậu hoặc là chỉ cho sự đau khổ của thân và tâm vì mục đích tu hành theo Phật Giáo là làm cho hết sự đau khổ của thân tâm. Vì thế khi một vị chứng quả A La Hán gọi là bậc vô lậu, là bậc không còn đau khổ thân tâm, bậc bất động trước các pháp ác (Phiền não) và các cảm thọ (sự đau nhức).

Lậu hoặc (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là sự đau khổ của thân và tâm của con người. Ba pháp đoạn tận lậu hoặc tức là ba pháp đoạn tận sự khổ đau của con người. Ba pháp này là: 1- Hộ trì các căn 2- Tiết độ ăn uống 3- Chú tâm tỉnh giác. Lậu hoặc phải hiểu nghĩa là sự phiền não, là sự đau khổ của thân và tâm, chứ đừng hiểu theo nghĩa của Ðại Thừa là rò rỉ. Theo tự điển Phật Học Việt Nam thì lậu hoặc có nghĩa là phiền não. Phiền não thì chưa đủ nghĩa vì phiền não mới chỉ cho tâm đau khổ, còn thiếu phần thân. Cho nên, ý của đoạn kinh này phải hiểu nghĩa lậu hoặc là chỉ cho sự đau khổ của thân và tâm. Tâm vô lậu tức là tâm chấm dứt luân hồi tái sinh. Mục đích tu hành theo Phật giáo là làm cho hết sự đau khổ của thân tâm. Hết sự đau khổ của thân tâm mới được gọi là vô lậu. Một vị chứng quả A La Hán gọi là bậc vô lậu, là bậc không còn đau khổ thân tâm, bậc bất động trước các pháp ác (phiền não) và các cảm thọ (sự đau nhức). Người còn phiền não giận hờn thương ghét..., người còn bệnh tật khổ đau, rên rỉ thì không thể gọi là vô lậu. Cho nên, đức Phật xác định một câu ngắn gọn: “Nói lậu hoặc là chỉ đau khổ”. Hết lậu hoặc là hết đau khổ. Con đường tu theo Phật giáo là phải hết lậu hoặc. Bậc vô lậu là bậc giải thoát của Phật giáo.

Lậu Tận Minh (ĐườngRiêng)(TrợĐạo) có nghĩa là trí tuệ tỉnh giác sáng suốt biết tâm mình, nhìn thấu suốt tâm mình, khiến cho lậu hoặc bị diệt mất mà chỉ còn lại một tâm vô lậu hiện tiền. Muốn có trí tuệ Lậu Tận Minh tỉnh giác sáng suốt diệt tận lậu hoặc như vậy thì phải sử dụng Tinh tấn như ý túc. Lậu Tận Minh là trí tuệ thấu suốt mọi vật, mọi pháp trên thế gian này không có pháp nào thường còn, toàn là vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta, là bản ngã của ta, chỉ là theo các duyên hợp mà thành ra vạn vật, vạn pháp rồi cũng theo các duyên tan mà vạn vật, vạn pháp hoại diệt, theo 12 duyên tan hợp mà khổ đau trùng trùng diễn tiếp. Do Trí tuệ Lậu Tận Minh mà Đức Phật thấy con người sống trong lậu hoặc nên chịu đau khổ vô vàn.

Lễ phép xã giao (PhậtDạy.2) sống đối xử với nhau không làm khổ mình, khổ người, tức là biết nhẫn nhục, tuỳ thuận và bằng lòng (không phải là theo lễ phép xã giao thường như ngoài đời),là cách đối xử với mọi người, luôn luôn phải thấy mọi người đều là người tốt, người thiện “Thấy lỗi mình đừng thấy lỗi người”, là các pháp ác không nên làm, nên làm các pháp thiện “Biết chuyện mình, không nên biết chuyện người, người làm hay không làm là điều của họ, còn ta thì nên sửa mình từng phút từng giây không nên biếng trễ”.

Lịch sử Chùa Am (ChùaAm) viết về những nhân vật có tinh thần yêu nước, có ý chí kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm. Viết lịch sử là phải nói rõ hai phần: tinh thần và vật chất. - Phần một là nói về tinh thần: nói lên đường lối cách thức, phương pháp,đạo đức của Chùa Am để dẫn dắt mọi người trở thành những con người tốt có ích cho bản thân, cho xã hội, cho cộng đồng. Phần hai là phần nói về những nhân vật: Nói rõ những nhân vật trong Chùa Am đã thừa kế nối tiếp làm nên những trang sử có ích cho đời cho đạo. Chùa Am ra đời là vì đấu tranh chống giặc ngoại xâm, sự bóc lột các triều đại phong kiến và cuối cùng Chùa Am quyết tâm chống lại GIẶC SINH TỬ đòi quyền làm chủ sự SỐNG CHẾT cho loài người. Chùa Am đã bắt đầu từ một võ tướng của Tây Sơn về đây trú ngụ, để âm thầm chiến đấu chống giặc Pháp ngoại xâm. Các vị trụ trì Chùa Am tiếp nối nên ngày nay Chùa Am mới có những trang sử chống giặc cướp nước và đập tan sự bóc lột của những tập đoàn phong kiến các vương triều nhà Nguyễn, khiến cho Chùa Am ngày càng phát triển trở thành một Tu Viện có tầm cỡ cả nước nên các giới tri thức trong nước cũng như ở nước ngoài đều quan tâm lưu ý. Nơi đây xuất phát những người con yêu nước và nhất là nơi đây lại xuất hiện một nền văn hóa đạo đức nhân bản – nhân quả đem lại cho dân tộc và loài người trên thế giới một cuộc sống nhân văn không làm khổ mình, khổ người và không làm khổ tất cả chúng sinh. Một nền đạo đức đã có từ xa xưa từ khi có loài người, nhưng đến khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời mới dựng lên và truyền dạy cho chúng ta. Khi Ngài mất thì các tôn giáo khác đã ra công dìm mất nền đạo đức này để thay thế vào những kinh sách và giáo pháp mù quáng, mê tín, lạc hậu. Vì thế loài người đến ngày nay ít ai biết đến nền đạo đức này. Mãi đến vị trụ trì đời thứ tư của Chùa Am ra đời mới ra công biên soạn bộ sách đạo đức nhân bản – nhân quả để mọi người sống không làm khổ cho nhau và nhất là không làm khổ chúng sinh. Chùa Am có một chiều dài lịch sử hơn hai trăm năm, từ khởi thủy đến phát triển để trở thành một Tu viện Chơn như, có 260 ngôi nhà lớn nhỏ, một cảnh quan tu hành yên tịnh, có rừng cây mát mẻ, có đường đi, lối lại sạch đẹp khắp nơi trong Chùa Am, là nơi học tập đạo đức, rèn luyện nghị lực để trở thành những người tốt cho xã hội.

Lịch sử Phật giáo Việt Nam (TrợĐạo) Phật giáo truyền vào Việt Nam đi vào ba ngõ: 1- Ngõ thứ nhất từ Trung Hoa: Từ Trung Hoa truyền đến Việt Nam có hai dòng tư tưởng Phật giáo: Dòng tư tưởng thứ nhất, đó là Phật giáo Tịnh Ðộ Tông do ảnh hưởng Nho giáo nên dòng tư tưởng mang tính chất mê tín hoang đường lạc hậu thường hướng dẫn giới bình dân vì giới này dễ tin. Phật giáo Tịnh Ðộ Tông từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam là dòng tư tưởng mê tín. Ðó là một Phật giáo không còn nguyên chất Phật giáo Ấn Ðộ, nó chịu ảnh hưởng tư tưởng Khổng giáo, Trang Tử Trung Quốc, một loại Phật giáo mê tín, lạc hậu, thường lấy sự cúng bái tụng niệm làm đường công phu: Trưa, chiều, tối khuya, chuông, mõ, trống, phách, đẩu nhịp nhàng theo giọng tụng niệm cao thấp làm công phu tu hành. Mê tín, lạc hậu cho nên khi có bệnh tật hay tai nạn thì tụng kinh cầu an; nếu có người chết làm ma chay thì tụng niệm kinh cầu siêu. Khi tụng kinh cầu an, cầu siêu thường đánh chuông, khỏ mõ, và trống kèn, đàn nhạc theo giọng tụng kinh niệm Phật ê, a giống như ca hát mà các nhạc sư gọi NHẠC ÐẠO. Chính vì muốn ru hồn người vào cảnh mộng nên các nhà sư Ðại Thừa mới xây dựng một thế giới siêu hình Cực Lạc Tây Phương để linh hồn người chết có chỗ nương tựa. Dòng tư tưởng thứ hai đó là Thiền Tông chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo nên dòng tư tưởng này mang tính triết lý, hướng dẫn giới trí thức, thường dùng lý luận đề cao triết học TÁNH KHÔNG. - Ngõ thứ hai từ Ấn Ðộ Phật giáo truyền sang vào miền Bắc đất nước ta, nhưng dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc nên họ không theo, vì thế các nhà sư Ấn Ðộ trở về nước. Do những điều kiện này mà di tích văn hóa Phật giáo Ấn Ðộ không có lưu lại đền tháp chùa ở miền Bắc Việt Nam. - Ngõ thứ ba Phật giáo Nam Tông từ Lào, Thái Lan, Campuchia truyền sang, vì thế mà những tỉnh sát ranh giới Camphuchia, Lào có một số người theo tu tập, nhưng phần đông họ là người Việt gốc Campuchia, chớ người Việt chính gốc thì không theo.

Liệt tuệ (PhậtDạy.2) là trí tuệ yếu đuối không hoạt động, không làm việc, không chịu tư duy, suy nghĩ, trí tuệ mệt mỏi, lười biếng, uể oải, v.v... Liệt tuệ là một trí tuệ không có sức đề kháng, là một trí tuệ nhu nhược hèn nhát, yếu mềm; liệt tuệ là trí tuệ tiêu cực, yếm thế đầu hàng mọi ác pháp. Người có liệt tuệ không bao giờ tu theo Phật giáo được, vì Phật giáo là một tôn giáo tự lực nên không có ai giúp đỡ mình mà phải chính mình vươn lên.

Liễu Tri (ĐườngVề.2)(ĐườngVề.9)(12Duyên)(Tạoduyên) là biết rõ như thật, không còn một chút nghi ngờ nào cả. Liễu tri là thông suốt để tâm không dính mắc chấp trước. Những pháp cần thông suốt đó là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (thông suốt Ngũ Uẩn) là pháp Vô Thường không phải là ta, không phải là của ta, là bản ngã của ta. Thông suốt như vậy nó sẽ giúp đoạn tận Tham, Sân, Si là giải thoát. Thông suốt Ngũ Uẩn thì chúng ta không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa. Do không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa thì tâm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đã diệt sạch. Liễu tri là sự hiểu biết một sự vật cụ thể có thật, không có tưởng tượng, sự hiểu biết bằng ý thức rất cụ thể, rõ ràng, thiết thực, không mơ hồ, trừu tượng, ảo giác.

Chữ Liễu Tri ở đây Đức Phật dùng là để chỉ cho chúng ta biết sự hiểu biết thông suốt Ngũ Uẩn là các pháp Vô Thường, nhờ đó mới đoạn tận Tham, Sân, Si. Mà Tham, Sân, Si đã đoạn tận thì sự giải thoát ngay trước mắt của chúng ta. Ở đây diệt sạch Ngũ Triền Cái là do Liễu Tri Thân Ngũ Uẩn, cho nên khi Liễu Tri thân Ngũ Uẩn thì chúng ta không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa. Do không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa thì tâm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đã diệt sạch. Phần nhiều người trên thế gian này sống trong tưởng tri ít ai sống trong liễu tri, vì thế mọi người lầm chấp thế giới hữu hình và thế giới vô hình là có thật nên đời đời chịu nhiều khổ đau.

Liễu Tri thân Ngũ Uẩn (ĐườngVề.2) thì chúng ta không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa. Do không còn dính mắc chấp đắm trong thân Ngũ Uẩn nữa thì tâm Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đã diệt sạch.

Liễu tuệ (PhậtDạy.2) là trí tuệ thấy, hiểu, biết mọi pháp như thật. Liễu tuệ còn gọi là trí tuệ Tam Minh.

Linh hồn (LinhHồn) là một danh từ chỉ cho những trạng thái trừu tượng siêu hình thường xảy ra xung quanh đời sống của con người mà ý thức của con người không thể làm sao hiểu nổi. Tin có linh hồn là do bị đường lối chánh sách ngu dân của Phật giáo Trung Quốc. Linh hồn chỉ là những từ trường từ những hành động, hình ảnh và âm thanh lúc đang còn sống của người chết còn lưu lại trong không gian mà thôi.

Linh hồn người chết (CữSĩTu) là do trạng thái của tưởng uẩn của người còn sống tạo ra.

Linh miêu (CầnBiết.1) trong những con mèo sẽ có con mèo gọi là “linh miêu”. Nếu con mèo này nhảy ngang qua thây người chết, thì thây ma đứng dậy chạy và đụng ai thì người ấy chết theo. Bây giờ không còn tục lệ nhốt mèo đó nữa.

Luật nhân quả (PhậtDạy.2)(10Lành)(ĐạoĐức.2) là một phép tắc, được quy định theo sự hoạt động tự nhiên của vũ trụ, để quân bình trật tự an toàn của các hành tinh trong không gian. Nếu không có luật nhân quả quy định trật tự các hành tinh trong không gian này thì hoạt động của chúng sẽ bị đảo lộn, và như vậy muôn vật sống trên các hành tinh sẽ bị tiêu diệt. Luật nhân quả không phải do con người quy chế hay một đấng tạo hóa nào lập ra, mà chính do các “hành” hoạt động theo sự vận hành vô minh tự nhiên của bản chất vạn vật mà lập thành. Như vậy, nhân quả do mỗi sự sống trên hành tinh này tạo ra khi có "hành". Luật nhân quả (của mỗi người) do từ hành động thân, miệng, ý của người đó tạo ra nhân để nhân sanh quả, từ đó quả (của nhân đó) mới xử phạt lại người đó, mà gọi là luật, chứ không có tạo hóa nào tạo ra luật nhân quả để xử phạt ai hết, cho nên luật mà không luật. Vì thế, nhân quả xử phạt mới rất công minh, chứ nếu có ông tạo hóa hay vật nào làm ra luật nhân quả này thì luật nhân quả không công minh, không chính trực. Theo Luật nhân quả thì giết mạng phải đền mạng. Thế nên Đức Phật dạy cho hàng cư sĩ, sau khi qui y thì phải từ bỏ sáu nghề ác là để trau dồi đức hiếu sinh.

Lúc đóng (ThiềnCănBản) (có nghĩa là không giải thích) là để cho đệ tử khai triển trí tuệ.

Lúc mở (ThiềnCănBản) (có nghĩa là giải thích) là để khích lệ, sách tấn đệ tử nổ lực tu tập.

Lục Diệu Môn (Tạoduyên) gồm có sáu pháp tu tập: sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh do Trí Khải đại sư sản sanh.

Lục dục (TâmThư.1) gồm có: 1- Nhãn dục; 2- Nhĩ dục; 3- Tỷ dục; 4- Thiệt dục; 5- Thân dục; 6- Ý dục.

Lục hòa (ThanhQui) là sáu điều hòa hợp mà mọi người cần phải thông suốt để sống với nhau trong sự đoàn kết hòa hợp. Lục hòa gồm có: 1: Thân hòa đồng trụ. 2: Khẩu hòa vô tranh. 3: Ý hòa đồng duyệt. 4: Giới hòa đồng tu. 5: Kiến hòa đồng giải. 6: Lợi hòa đồng quân.

Lục Nhập (ĐườngVề.1)(ĐườngVề.5)(12Duyên)(CầnBiết.2)(CầnBiết.3) là lục căn và lục trần. Sáu căn là sáu (Tạoduyên) cửa ra vào của thân, gồm có: Mắt, Tai, Mũi, Miệng, Thân, Ý. Và sáu trần là các pháp bên ngoài thân, gồm có: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Sáutrần tiếp xúc sáu căn, nên kinh dạy: “Lục nhập sanh ra xúc”.

Lực của sắc ấm (ĐườngVề.5) là lực ám thị của ý thức (Ý thức lực).

Lực của thức ấm (ĐườngVề.5) là lực của 7 giác chi (Tâm thức lực, lực của tâm). Khi tu tập tâm chưa ly dục ly ác pháp hoàn toàn thì lực của tưởng thường xuất hiện phá lực của tâm làm cho chúng ta khó phân biệt.

Lực của tưởng ấm (ĐườngVề.5) là lực của ma ngũ ấm (Tưởng thức lực). Khi tu tập tâm chưa ly dục ly ác pháp hoàn toàn thì lực của tưởng thường xuất hiện phá lực của ý thức làm cho chúng ta khó phân biệt. Cho nên, các huyệt trên thân khai mở tức là dao động thì lực tưởng xuất hiện mà hầu hết ngoại đạo thường tu tập để khai mở những huyệt đạo này khiến cho năng lực này trở thành thần thông.

Lòng bi (PhậtDạy.4) là lòng thương xót chúng sanh, khi thấy chúng sanh trong cơn hoạn nạn hay bệnh tật khổ đau hoặc đứng trước cái chết sắp đến, chúng ta không thể làm ngơ được.

Lòng ham muốn (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4)(10Lành)(ĐạoĐức.2) là chỉ cho tâm dục của chúng ta. Tâm dục là nguyên nhân sinh ra đau khổ của con người. Người nào không còn lòng ham muốn là người thoát khổ, là người tu hành đã giải thoát hoàn toàn. Nếu người ta không tham dục thì không có bệnh khổ. Lòng ham muốn là nguyên nhân sinh ra đau khổ của con người, nó là một triết lý mang tính chân thật của con người mà không ai có thể chối bỏ và bắt bẻ được, nên nó là chân lý như thật của con người. Lòng ham muốn năm món dục lạc (tài = tiền của: sắc = sắc đẹp; danh = danh vọng; thực = ăn uống; thùy = ngủ nghỉ). Mong cầu mà được toại nguyện thì sanh tâm vui mừng, hớn hở, còn ngược lại thì buồn khổ, sầu não. Lòng ham muốn của con người thì vô tận, có một thì muốn được mười, chẳng bao giờ thấy đủ.

Lòng ham muốn năm món dục lạc (10Lành) tài = tiền của; sắc = sắc đẹp; danh = danh vọng; thực = ăn uống; thùy = ngủ nghỉ. Mong cầu mà được toại nguyện thì sanh tâm vui mừng, hớn hở, còn ngược lại thì buồn khổ, sầu não.

Lòng hiếu sinh (CữSĩTu) là một Thánh Ðức của người tu sĩ Phật giáo. Nhưng dù là tu sĩ hay cư sĩ cũng đều phải thực hiện cho bằng được Thánh Ðức hiếu sinh nếu không thì phải trả nợ máu xương rất nặng trong nhiều kiếp. Người tu sĩ nào đi ngược lại Giới Ðức Hiếu Sinh này là tu sĩ của tà đạo, Họ chỉ biết nuôi thân mình bằng xương máu của chúng sanh thì sao gọi là Thánh đệ tử của Phật. Trong Bát Chánh Ðạo, Chánh Mạng là nuôi mạng sống của mình không bằng máu, xương của chúng sanh. Chánh

Lòng hoan hỉ chấp nhận pháp (PhậtDạy.4) Lòng vui mừng chấp nhận pháp và hiểu rõ giá trị pháp.

Lòng quý (CầnBiết.4) là tự sợ hãi vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp.

Lòng tàm (CầnBiết.4) là tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp. Ở đây Đức Phật lấy pháp xấu hổ làm pháp tu tập sửa mình để thăng hoa đạo đức làm người "thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp". Ví dụ (thân ác hạnh) Khi chúng ta lấy tay, chân hay gậy, đá đánh người hoặc chó, gà, heo, dê, lừa, ngựa, bò, trâu, v.v... Ví dụ (khẩu ác hạnh) : Hằng ngày các bạn đều ăn thịt chúng sanh . Xấu hổ có nhiều cách: 1/ Nghèo thua kém người khác là xấu hổ. 2/ Làm ăn thua người khác là xấu hổ. 3/ Học hành không bằng bè bạn là xấu hổ.

Lòng thương yêu sự sống hay Đức Hiếu Sinh (TruyềnThống.1) là lòng thương yêu sự sống của muôn loài xuất hiện theo từng cấp độ: 1- Cấp độ thứ nhất: con người biết thươngcon người. 2- Cấp độ thứ hai: con người biết thươngcác loài động vật khác. 3- Cấp độ thứ ba: con người biết thương cây cỏ và thảo mộc. Lòng hiếu sinh xuất phát từ tâm từ, bi, hỷ, xả hay Tứ Vô Lượng Tâm, là một pháp môn tu tập để thực hiện Đức Hiếu Sinh.

Lòng Tin (TrợĐạo) có lòng tin chúng ta mới nhiệt tâm tu tập, tu thật sự, còn không có lòng tin thì dù có tu tập cũng chỉ tu lấy có hình thức, nhờ có lòng tin chúng ta mới tu tập đến nơi đến chốn. Lòng Tin rất quan trọng trong cuộc sống đời người, nó còn quan trọng gắp trăm ngàn lần trong việc tu hành theo Phật giáo. Trong pháp môn Ngũ Lực của Phật giáo, Lòng Tin đứng hàng đầu gọi là Tín Lực.

Lòng Tin là duyên của Hân Hoan (12Duyên) Khi có lòng Hân hoan là nhờ Lòng tin của chúng ta biết chắc khả năng của mình làm nên sự nghiệp to lớn mà nay đã làm nên sự nghiệp to lớn thì chúng ta phải hân hoan. Biết như thật khả năng của mình thì lòng tin tưởng rất mãnh liệt. Chúng ta biết Sanh, Già, Bệnh, Chết là khổ đó là bốn sự đau khổ của kiếp người mà không ai tránh khỏi. Khi biết rõ như thật thì chúng ta khởi lòng tin tuyệt đối không có cái gì làm thay đổi lòng tin này được. Lòng tin xuất phát từ sự giác ngộ một sự thật. Biết rõ được sự thật như vậy thì lòng hân hoan không thể có bút mực nào nói lên hết được. Chúng ta rất vui mừng vì chúng ta tin sẽ diệt chúng làm cho chúng không còn sinh khởi được nữa.

Lòng từ (4Tâm) trong đời sống của chúng ta có hai cái vui: 1) Cái vui bền bỉ chân thật. 2) Cái vui ngắn ngủi giả tạm, là cái vui còn bị phiền não chi phối vì có tham, sân, si đòi hỏi. Cái vui này là vui theo dục lạc, được thì vui, mất thì buồn; và dục lạc không bao giờ có thể thỏa mãn hoàn toàn được.

Lòng Yêu Thương (YêuThương.1)(YêuThương.2) là một hành động xả tâm tuyệt vời. Một hành động mà một người tu theo Phật giáo nào cũng cần nên rèn luyện để mình luôn luôn được sống trong sự bình an, yên ổn. Lòng yêu thương là một đức tính của muôn loài, khi mới sinh ra là đã mang theo với đức tính này, nhưng lòng yêu thương có những cấp độ khác nhau. Lòng yêu thương vì người, thì ai nói cũng được, nhưng khi thực hiện sống với lòng yêu thương vì người mới thấy khó vô cùng. Lòng yêu thương là một cảm xúc tự nhiên mà mỗi người ai cũng có. Lòng yêu thương sẽ có ý nghĩa hơn nhiều khi chúng ta biết ban tặng cho mọi người không phân biệt thân, sơ để làm cho cuộc sống ấm áp, hạnh phúc hơn; để làm cho mọi người gần gũi nhau hơn. Dắt một bà lão qua đường, đó là hành động lòng yêu thương; nhường chỗ ngồi cho người có con nhỏ hay một người già yếu trên xe bus, đó cũng là hành động lòng yêu thương; dùng lời an ủi một người nào đó để họ được yên tâm an vui, đó cũng là đã ban tặng hành động lòng yêu thương cho người. Mỗi bước đi tránh giậm đạp lên những loài vật nhỏ nhít như kiến và côn trùng dưới bước chân, đó là chúng ta cũng thực hiện hành động lòng yêu thương. Ðem một nắm cơm hay một nắm lúa cho một con chim hay một con gà, cũng như cho một con mèo đang đói được ăn, đó cũng là thực hiện hành động lòng yêu thương; Nghe tiếng kêu cầu cứu của một con nhái bị con rắn cắn, chúng ta không thể làm ngơ, và cố tìm mọi cách để cứu con nhái và ngăn chặn con rắn tránh làm những điều ác, đó cũng là thực hiện hành động lòng yêu thương. Lòng yêu thương giúp cho con người trở thành những người tốt, những người có đạo đức, có lòng nhân ái, có đức nhẫn nhục biết tùy thuận, đầy lòng tha thứ yêu thương và luôn luôn còn biết rộng mở vòng tay chia sẻ những nỗi buồn vui với mọi người.

Lòng Yêu Thương độc quyền (YêuThương.2) tức là Lòng Yêu Thương chiếm hữu. Khi lòng yêu thương chiếm hữu đến với người nào thì người đó không bao giờ còn quyền tự do giao tiếp với những người khác.

Lòng yêu thương nhất hướng (TâmThư.1) như hành động của những người cứu người mà hại mình.

Loài bàng sanh (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) loài có thân đi song song mặt đất. Một trạng thái giống như loài bàng sanh. Muốn tu tập để thoát ra trạng thái đau khổ này và chấm dứt tái sanh luân hồi thì chỉ có tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Lõi cây (PhậtDạy.2)(TrợĐạo) Những thớ cây kết tinh cứng rắn nhất của một cái cây để cây có một giá trị tốt nhất. Sự giải thoát có một năng lực kết tinh cứng rắn các ác pháp không làm động thân tâm được, thân tâm luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự, tâm giải thoát bất động (nhập bốn thiền thực hiện tam minh làm chủ sinh, già, bệnh, chết, Tâm bất động) (Trung Bộ, kinh số 29. Ðại Kinh Thí Dụ Lõi Cây).

Lớp Chánh Ðịnh (TâmThư.2) là lớp cuối cùng trong tám lớp Bát Chánh Đạo, tu tập Tứ Niệm Xứ, thực hiện Tứ Thánh Định.

Lớp Chánh kiến (TâmThư.2) là lớp thứ nhất trong tám lớp Bát Chánh Đạo, tu tập và giữ gìn Tam Quy, Ngũ Giới.

Lớp Chánh nghiệp và Chánh Mạng (TâmThư.2) là lớp thứ tư và lớp thứ năm trong tám lớp Bát Chánh Đạo, học tập thực hành những hàng động thân, miệng, ý không làm những điều ác.

Lớp Chánh Niệm (ĐườngRiêng)(TâmThư.1) là lớp thứ bảy trong tám lớp của Bát Chánh Đạo, là lớp tu chứng đạo của Phật giáo. Trong Lớp Chánh Niệm phải tu tập Tứ Niệm Xứ. Tuy cùng một pháp môn Tứ Niệm Xứ nhưng giai đoạn đầu tu tập khác; giai đoạn sau tu tập khác. Tu tập Tứ Niệm Xứ là trên thân quán thân để nhiếp phục tham ưu; trên thọ quán thọ để nhiếp phục tham ưu; trên tâm quán tâm để nhiếp phục tham ưu; trên pháp quán pháp để nhiếp phục tham ưu. “Quán” là quan sát bằng mắt; bằng sự cảm nhận. “Nhiếp phục” là thu phục làm cho phục tùng; làm cho đầu hàng; làm cho không còn chướng ngại pháp và ác pháp nữa; làm cho không còn phá phách; làm cho không còn đau khổ; làm cho không còn phiền não; làm cho không còn giận hờn tham, sân, si, mạn, nghi nữa. “Tham ưu” là tham muốn và phiền não, nghĩa chung là những chướng ngại pháp. Khi thực hành vào pháp xả tâm trên Tứ Niệm Xứ thì không ức chế tâm.

Lớp Chánh Tinh Tấn (TâmThư.1) là lớp thứ sáu trong tám lớp Bát Chánh Đạo, phải tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần. Cùng một pháp môn nhưng giai đoạn đầu tu tập khác; giai đoạn sau tu tập khác. Tứ Chánh Cần là “ngăn”và “diệt” các ác pháp để luôn luôn “sinh” thiện “tăng trưởng” thiện pháp, “Ngăn” là ngăn ngừa, ngăn chặn, ngăn cản không cho vào. “Diệt” là làm cho tiêu mất, làm cho chết, làm cho tiêu diệt, làm cho không còn, không tồn tại “Sinh” là sinh ra, làm ra cho nhiều, sản xuất. “Tăng trưởng” là làm cho lớn, cho nhiều, cho mạnh.

Lớp Chánh tư duy, Chánh ngữ (TâmThư.2) Chánh tư duy là lớp thứ nhì còn Chánh ngữ là lớp thứ ba trong tám lớp Bát Chánh Đạo, học đạo đức nhân quả, đó là học mười điều lành.

Lớp đức hạnh (TâmThư.2) 5 lớp đức hạnh đầu tiên trong Bát Chánh Ðạo của Phật giáo: 1-Chánh kiến , 2-Chánh tư duy, 3-Chánh ngữ, 4-Chánh nghiệp, 5- Chánh mạng. Gồm có những bài học và tu tập Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện.

Lớp Thọ Bát Quan Trai (TâmThư.2) gồm có hai phần: 1- Nghi thức truyền Thọ Bát Quan Trai. 2- Giáo án học lớp Thọ Bát Quan Trai.

Lớp Thọ Ngũ Giới (TâmThư.2) gồm có 2 phần: 1- Nghi thức Thọ Ngũ Giới. 2- Giáo án học Thọ Ngũ Giới.

Lớp Thọ Tam Quy (TâmThư.2) gồm có hai phần: 1- Nghi thức truyền Tam Quy. 2- Giáo án học lớp Tam Quy.

Lớp Tu Thập Thiện (TâmThư.2) chỉ có giáo án, không có nghi thức Thọ Thập Thiện.

Lời lật lọng (10Lành) tức là không nói dối bằng cách lật ngược sự việc, lấy việc phải làm việc quấy, lấy việc quấy làm việc phải.

Lời nói ác khẩu (PhậtDạy.2) có bốn 1- Nói lời hung dữ, 2- Nói lời không thành thật, 3- Nói xấu người khác, 4- Nói vu khống.

Lời nói dối (PhậtDạy.4) là lời nói không thật, nói không đúng sự thật là lời nói không nhân từ, lời nói không có ái ngữ, lời nói làm mất lòng tin của mọi người.

Lời nói đúng đắn (10Lành) không thêu dệt, nói chánh lý, không dối gạt người, không làm tổn hại danh giá, tài sản và thậm chí cả tánh mạng của người.

Lời nói hung ác (10Lành) là lời nói ác cho kẻ khác, nói người ta hung dữ, phao phản người, luôn luôn bươi móc việc xấu của người. Lời nói hung ác có nhiều loại: a. Lời chửi mắng, b. Lời thề thốt, c. Lời nói xấu người khác, d. Lời chê bai người khác, e. Lời nói tục tĩu, f. Lời nói đâm thọc, g. Lời nói chửi thề, h. Lời nói dối, i. Lời nói thêu dệt, j. Lời nói tráo trở, k. Lời nói nạt nộ, l. Lời nói vu khống, m. Lời nói nịnh hót.

Lời nói hung dữ (PhậtDạy.4) là lời nói chưởi mắng, mạ lị, mạt sát, hăm dọa, dọa nạt người, làm cho người khác khiếp đảm sợ hãi, những lời nói không nhân từ, không ái ngữ, ác khẩu, lời nói hung ác.

Lời nói li gián (PhậtDạy.4) là lời nói khiến cho mọi người sống không hòa hợp, không đoàn kết, khiến cho mọi người thù hận ganh ghét nhau, đó là lời nói không nhân từ, lời nói hung ác, lời nói gây chia rẽ, gây đau khổ cho người khác.

Lời nói suông (PhậtDạy.4) là lời nói không chỉ rõ mục đích giải thoát rõ ràng, cụ thể.

Lời nói thêu dệt (PhậtDạy.4) là lời nói trau chuốt, là lời nói lừa đảo người khác, lời nói như vậy là lời nói không nhân từ, lời nói không ái ngữ, lời nói mà mọi người đều chê trách, lời nói ác khẩu, lời nói hung ác mà người có đạo đức không bao giờ chấp nhận.

Lớp Chánh Ðịnh (TâmThư.2) là lớp cuối cùng trong tám lớp Bát Chánh Đạo, tu tập Tứ Niệm Xứ, thực hiện Tứ Thánh Định.

Lợi hòa đồng quân (ThanhQui) là mình được những lợi lộc gì đều đem ra chia đều cho nhau để cùng sống.

Lợi ích lớn (TruyềnThống.1)(MuốnChứngĐạo)(CữSĩTu) Lợi ích lớn có 5 nghĩa là: 1- Ðời sống được an vui, hạnh phúc, không có ác pháp nào làm dao động được tâm, tâm luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự, thường thản nhiên trước mọi dục lạc thế gian, mọi sự cám dỗ vật chất, mọi ác pháp, v.v... 2- Làm chủ được tuổi già, có nghĩa là khỏe mạnh quắc thước như một thanh niên cường tráng. 3- Làm chủ được mọi bệnh tật, không sợ ốm đau như người thường tục. 4- Làm chủ được sự sống chết, muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. 5- Chấm dứt tái sanh luân hồi. ("Và này La Hầu La, thế nào là tu tập niệm Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra làm cho sung mãn nên được quả lớn, được lợi ích lớn?” Kinh Giáo Giới La Hầu La).

Ly (ThiềnCănBản) nghĩa là rời xa, lìa xa, cách xa.

Ly ác pháp (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4)(ThiềnCănBản) là lìa xa, không làm theo các pháp ác, ngăn chặn các pháp ác không cho xâm chiếm vào tâm. (Trích Thiền Căn Bản 1) Trước khi bắt tay vào việc tu tập cụ thể ly ác pháp ở phần II của Giai đoạn I này thì phải tu tập dứt điểm (ở phần I) Ly Dục hay ít ra cũng phải sống đúng giới luật, thấy những lỗi nhỏ nhặt đáng sợ, thấy lỗi mình không thấy lỗi người. Tâm Ly Dục nghĩa là hoàn toàn Ly Chấp Ngã. Chưa ly dục hoàn toàn mà vội ly ác pháp là một hành động điên rồ, tu tập như vậy là ức chế tâm, là nén tâm, chịu đựng, an phận. Ví như người sống phạm giới phá giới mà ngồi thiền nhập định thì chẳng có ích lợi gì. Người đang sống trong cảnh dục lạc thế gian, tâm chưa ly dục mà theo học hỏi những thiện pháp trong kinh sách thì chỉ mới gieo chủng tử ly dục, ly ác pháp của đạo giải thoát mà thôi; người này còn phải thực hành tu tập nhiều nữa.

Ly bất thiện pháp (TrợĐạo) lìa tất cả các ác pháp làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh, không làm theo những điều ác. Thường tỉnh giác sáng suốt nhận ra từng hoàn cảnh, từng đối tượng, từng hành động việc làm, từng ý niệm khởi lên, nếu xét thấy làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh thì nhất định không làm và tránh xa.

Ly dục (Phậtdạy.3)(Đường Về.7)(CầnBiết.4)(TrợĐạo)(ThiềnCănBản)(CưSĩTu) Ly dục là lìa tất cả lòng ham muốn, hễ trong tâm khởi lên niệm ham muốn nào thì nhất định không làm theo, không chạy theo, như vậy gọi là lìa. Ly dục là không làm theo lòng ham muốn của mình, tâm sai bảo mình làm gì thì không làm theo. Ðó là ly dục. Ví dụ: Khi tâm khởi muốn ăn, thấy bụng đói mà chưa tới giờ ăn thì nhất định không ăn. Tâm khởi muốn nghe băng hoặc lấy kinh sách ra đọc thì nhất định không nghe băng, không đọc kinh. Khi bị người khác chửi mắng mạ nhục mình, mà mình tức giận là không ly ác pháp, là không giữ giới; còn không tức giận mà biết thương người chửi mắng mình là ly dục, ly ác pháp, là giữ giới. Ly dục là lìa xa cái tâm ham muốn, chớ không phải ly vật dụng, vật chất. Một người sống ở rừng núi không có vật dụng gì, người này ly vật dụng, chớ không ly tâm dục.

Ly dục ly ác pháp (ĐườngVề.1)(ĐườngVề.2)(ThiềnCănBản) là Tu tập Ðịnh Vô Lậu, diệt ngã xả tâm, quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, trau dồi tâm từ, bi, hỷ, xả của mình khiến cho thân tâm thanh tịnh, nhập được các loại Thiền định, làm chủ được sự sống chết luân hồi, chứ không phải xả vọng tưởng lăng xăng như kinh sách phát triển dạy. Ly dục ly ác pháp là chừa bỏ hẳn, lìa xa cảnh giác tâm tham dục và các ác pháp để nó không còn trở lại. Ly dục, ly ác pháp là lấy những lỗi lầm của bạn đồng tu để ngăn ngừa tâm mình, không cho phạm phải những lỗi lầm đó.

Ly dục ly ác pháp của ngoại đạo (ĐườngRiêng) kỳ thực là không có pháp ly dục ly ác pháp mà chỉ có pháp ức chế ý thức khiến cho ý thức không còn niệm khởi.

Ly dục ly bất thiện pháp (ĐườngRiêng)(Tạoduyên) là “Tứ Chánh Cần”. Người mới tu tập phải dùng tri kiến giải thoát để hằng ngày ly dục ly bất thiện pháp. Người nào siêng năng trong từng phút, từng giây ly dục ly bất thiện pháp thì người ấy luôn luôn ở trong tâm bất động. Tâm luôn luôn bất động là chứng đạo. Ly dục, ly bất thiện pháp là lìa tâm ham muốn và các ác pháp. Do ly dục mà giải thoát được cái ăn, cái ngủ và các lòng ham muốn, nên cuộc sống không còn bon chen khổ sở, không còn phiền não, sân hận, tham lam, si mê, ganh tỵ, v.v...

Ly hỉ trú xả nhập Tam Thiền (Phậtdạy.3) thì phải tịnh chỉ sự hoạt động của tưởng uẩn hay vượt qua thế giới tưởng, tức là lìa xa 18 loại hỷ tưởng. Lìa hết 18 loại hỷ tưởng này thì nhập Tam Thiền.

Ly hỷ tưởng (ĐườngVề.2) có nghĩa là lìa hỷ tưởng, chứ chưa diệt bỏ hẳn phải cảnh giác kẻo nó sẽ còn trở lại.

Ly mặc cảm (TâmThư.1) tức là không thấy buồn, không thấy xấu hổ, không thấy hối hận. Không thấy buồn, không thấy xấu hổ, không thấy hối hận tức là hoan hỷ.

Ly Tham (12Duyên)(TruyềnThống.2) là duyên của Giải Thoát. Muốn thoát mọi sự khổ đau trong cuộc đời thì chỉ có Lìa Xa hay Từ Bỏ hoặc Đoạn Diệt Tâm Tham. Muốn đoạn diệt tâm tham thì phải xa lìa tâm tham, có nghĩa là tâm tham khởi lên ham muốn một điều gì thì không nên làm theo. Ly tham là những hành động đạo đức làm Người, làm Thánh thuộc về thân tâm, nó chỉ rõ hành động sống đúng đức hạnh của mọi người, của những vị tu sĩ Thánh Tăng, Thánh Ni (thân hành thiện), có 6 giới ly tham: 1. Từ bỏ lấy của không cho. 2. Tránh xa sự lấy của không cho. 3. Chỉ lấy những vật đã cho. 4. Chỉ mong những vật đã cho. 5. Tự sống thanh tịnh. 6. Không có trộm cắp.

Lý luận (Phậtdạy.3)(ĐườngVề.8) có hai mặt: 1- Lý luận để soi sáng cho một sự thật sai hay đúng, để dựng lại nền đạo đức nhân bản, mang lại sự yên vui cho loài người. Ðó là sự lý luận đáng tán dương, ca ngợi, bái phục. 2- Lý luận để che đậy một hành động sai lầm, một hành động tội lỗi, v.v...; lý luận để biểu dương một triết học ảo tưởng, một giáo điều sai lầm, một giáo pháp mê tín, hư ảo, nó sẽ đưa đến những hậu quả đau khổ cho loài người từ thế hệ này đến thế hệ khác; lý luận để bao che cho một lịch sử huyền thoại là một việc làm sai lệch với chánh sử, đó là một hành tội lỗi với bao thế hệ của người sau. Lý luận có hai cách: 1/ Lý luận với người khác. 2/ Tự lý luận với mình, có ba cách a/ Tự lí luận thấy mình hơn người. b/ Tự lí luận thấy mình bằng người. c/ Tự lí luận thấy mình thua người. Người hay lí luận là người mang đầy bản ngã, luôn luôn thấy mình với người khác, đó là tâm đang bị ba kiêu mạn.

Lý luận siêu hình (PhậtDạy.1) nghĩa là không có cõi Cực lạc, Thiên đàng mà lý luận bằng cách này, cách khác để cho có các cõi ấy; sau khi chết không có sự sống nhưng khéo lý luận bằng cách này, cách khác để cho mọi người tin rằng người chết còn có linh hồn; không có Phật tánh mà lý luận bằng cách này, cách khác để cho mọi người tin rằng có Phật tánh, v.v... Ðó là những lối lý luận siêu hình để lừa đảo mọi người, vì nó không ích lợi gì cho chúng ta cả. Ðó là những lối lý luận siêu hình để lừa đảo mọi người, cho nên đức Phật khuyên chúng ta chớ có tin, vì nó không ích lợi gì cho chúng ta cả.


 

VIẾT TẮT CÁC SÁCH

(CầnBiết.1)=Người Phật Tử Cần Biết 1; (CầnBiết.2)=Người Phật Tử Cần Biết 2; (CầnBiết.3)=Người Phật Tử Cần Biết 3; (CầnBiết.4)=Người Phật Tử Cần Biết 4; (CầnBiết.5)=Người Phật Tử Cần Biết 5; (ChùaAm)=Lịch Sử Chùa Am; (CưSĩTu)=Những Chặng Đường Tu Học Của Người Cư Sĩ; (ĐạoĐức.1)=Đạo Đức Làm Người.1; (ĐạoĐức.2)=Đạo Đức Làm Người.2; (ĐườngRiêng)=Đạo Phật Có Đường Lối Riêng; (ĐườngVề.1)=Đường Về Xứ Phật 1; (ĐườngVề.10)=Đường Về Xứ Phật 10; (ĐườngVề.2)=Đường Về Xứ Phật 2; (ĐườngVề.3)=Đường Về Xứ Phật 3; (ĐườngVề.4)=Đường Về Xứ Phật 4; (ĐườngVề.5)=Đường Về Xứ Phật 5; (ĐườngVề.6)=Đường Về Xứ Phật 6; (ĐườngVề.7)=Đường Về Xứ Phật 7; (ĐườngVề.8)=Đường Về Xứ Phật 8; (ĐườngVề.9)=Đường Về Xứ Phật 9; (GiớiĐức.1)=Giới Đức Làm Người 1; (GiớiĐức.2)=Giới Đức Làm Người 2; (LinhHồn)=Linh Hồn Không Có ; (MuốnChứngĐạo)=Muốn Chứng Đạo Phải Tu Pháp Nào; (OaiNghi)=Hỏi Đáp Oai Nghi Chánh Hạnh; (PhậtDạy.1)=Những Lời Gốc Phật Dạy 1; (PhậtDạy.2)=Những Lời Gốc Phật Dạy 2; (PhậtDạy.3)=Những Lời Gốc Phật Dạy 3; (PhậtDạy.4)=Những Lời Gốc Phật Dạy 4; (TâmThư.1)=Những Bức Tâm Thư 1; (TâmThư.2)=Những Bức Tâm Thư 2; (TạoDuyên)=Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sanh; (TêNgưu)=Sống Một Mình Như Con Tê Ngưu Một Sừng; (ThanhQuy)=Thanh Quy Tu Viện Chơn Như; (ThiềnCănBản)=Thiền Căn Bản 1; (ThờiKhóa)=Thời Khóa Tu Tập; (TrợĐạo)=37 Phẩm Trợ Đạo; (TruyềnThống.1)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.1; (TruyềnThống.2)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.2; (YêuThương.1)=Lòng Yêu Thương 1; (YêuThương.2)=Lòng Yêu Thương 2; (10Lành)=Hành Thập Thiện; (10Lành)=Sống 10 Điều Lành; (12Duyên)=12 Cửa Vào Đạo; (3Quy5Giới)=Tam Quy Ngủ Giới; (4BấtHoại)=Tứ Bất Hoại Tịnh; (8QuanTrai)=Nghi thức thọ bát quan trai;

***

Đang có 44 khách và không thành viên đang online

Lượt xem
450
Các bài viết
1441
Số lần xem các bài viết
7798931