• ttl1
  • thanhanhniem3
  • ThayTL
  • khatthuc1
  • huongdantusinh
  • ttl3
  • thanhanhniem2
  • phattuvandao3
  • amthat1
  • tranhducphat
  • thanhanhniem1
  • tinhtoa1
  • tinhtoa2
  • quetsan
  • vandaptusinh
  • amthat2
  • phattuvandao1
  • chanhungphatgiao
  • amthat3
  • vandao2
  • toduongtuyetson
  • benthayhocdao
  • lailamtoduong1
  • daytusi
  • tamthuphattu
  • lopbatchanhdao
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Am thất
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
In bài này

NGHĨA TỪ NGUYÊN THỦY CHƠN NHƯ (vần T 4/5)

Lượt xem: 4298

(Tỳ khưu Từ Quang tổng hợp nghĩa các từ và câu kinh được Trưởng lão Thích Thông Lạc giảng trong tất cả các sách của Ngài)

 


Th (T4/5) 

Tha tưởng thông (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là một loại thần thông của ngoại đạo hiểu biết chuyện quá khứ vị lai của mọi người, còn gọi là tha tâm tưởng thông.

Thai sanh (ĐườngVề.9) là những loài vật sanh con, những loài vật này được sanh ra sau loài sanh trứng (thuộc về ác nghiệp).

Tham (PhậtDạy.1)(PhậtDạy.4)(CầnBiết.2)(CầnBiết.3)(CầnBiết.5)(CữSĩTu) là lòng tham lam, là tâm tham muốn tự khởi lên sự tham lam, ham muốn. Thường con người ai cũng có tâm tham lam và ham muốn nhưng có người tham muốn nhiều, có người tham muốn ít. Tham muốn là ác pháp thường mang đến sự khổ đau cho mình, cho người, cho cả hai. Vậy biết nó là ác pháp thì phải diệt không được để nó trong tâm. Khi nương tựa vào pháp Phật để diệt ác pháp thì tâm hết khổ đau.

Tham ái (PhậtDạy.1) Tham là ham muốn; ái là yêu thích. Con người vốn sinh ra đã bị đau khổ là vì tâm tham ái. Ðã là con người thì ai cũng có lòng ham muốn và ưa thích hoặc nhiều hoặc ít. Lòng ham muốn và ưa thích là một sợi dây vô hình thường trói buộc rất chặt tâm chúng ta vào vạn vật. Khi chúng ta khởi tâm ưa thích hay ham muốn một vật gì thì chúng ta bị trói chặt vào vật ấy, khó cho chúng ta buông bỏ được nó. Ví dụ: khi chúng ta khởi ý ham thích ưa muốn có một ngôi nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi, thì lúc bây giờ muốn bỏ ý niệm ấy rất khó. Nó thôi thúc chúng ta phải cố gắng làm lụng hoặc phải bán đến cả đất đai của cha mẹ cho để xây cất cho bằng được ngôi nhà. Ðó là bị tham ái trói buộc. Cho nên, đức Phật đã xác định cho chúng ta thấy tham ái rất là nguy hiểm, nó như sợi dây trói buộc rất chặt “bị tham ái trói buộc”. Ðó là lời cảnh báo để chúng ta thoát ra sợi dây vô hình này. Ðời người thường bị khổ đau đều do sợi dây tham ái này. Bát Chánh Ðạo giúp chúng ta cắt đứt những sợi dây tham ái đó. Chúng tôi đã nhờ pháp môn Bát Chánh Ðạo mà đoạn lìa được sợi dây tham ái này môt cách dễ dàng không mấy khó khăn và mệt nhọc, chỉ có bền chí ngày ngày siêng năng mài dũa tâm mình đúng pháp. Khi tâm tham ái diệt thì khổ đau và luân hồi chấm dứt. Nếu tâm không tham ái thì tâm được tịch tịnh. Tâm được tịch tịnh thì tâm mới an trú. Tâm có an trú thì tâm mới bất động trước các pháp, như câu kệ này dạy: “Với tâm an bất động”. Khi tâm đã an trú bất động thì lúc bây giờ chúng ta muốn chết lúc nào cũng dễ dàng không có khó khăn, không có mệt nhọc.

Tham ăn uống món ngon, vật lạ (rắn, rùa, ba ba, cua đinh, ...) (10Lành) là hành hạ thân xác, khiến cho thân mắc phải những chứng bệnh nan y. Những người ham ăn thì sẽ bị bội thực, trúng thực, bắt bao tử, gan, thận làm việc quá nhiều, không có thì giờ ngừng nghỉ, dễ mắc bệnh tiêu hóa, thận và tim mạch. Người cư sĩ cố gắng giữ một số ngày chay định kỳ trong tháng. Ăn chay chẳng những thể hiện tình thương đối với loài vật mà còn có ích lợi thực tế cho bản thân. Loài vật trước khi bị giết, nó đau đớn khổ sở, đem lòng thù hận, nếu ta ăn thịt chúng thì bản thân ta cũng bị ảnh hưởng.

Tham đọa (Phậtdạy.3)(PhậtDạy.4) Tham đọa tức là tham độc, một trong ba độc tham, sân, si. Tham đọa là lòng tham muốn đưa chúng ta vào sự khổ đau; tham đọa còn có nghĩa là do lòng tham muốn đưa chúng ta vào cảnh khổ hay địa ngục. Lòng còn tham muốn là cái nhân của tội ác. Tâm tham là nhân của tội lỗi. Do đó, phải ngăn và diệt nó, ngăn và diệt cái nhân tội lỗi là diệt lòng tham muốn của mình. Tâm tham còn là còn luân hồi, tâm tham hết là hết luân hồi.

Tham dục ám ảnh (CầnBiết.3) là lòng tham muốn hiện ra lởn vởn trong trí ray rứt không yên.

Tham dục chi phối (CầnBiết.3) là lòng tham muốn tác dụng điều khiển, sai khiến.

Tham kiết (CầnBiết.4) Phiền não của tham dục tức là do lòng tham muốn không đạt được sinh phiền não.

Tham kiết sử (Phậtdạy.3)(TruyềnThống.2) là hạ phần kiết sử, là lòng tham muốn đang bừng bốc cháy trong tâm. Phiền não của tham dục tức là do lòng tham muốn không đạt được sinh phiền não. Muốn diệt trừ hạ phần kiết sử này thì chỉ có tu pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Tham lam (ĐạoĐức.2) là hành động tự làm hại mình. Tâm tham lam sẽ đem đến rất nhiều tai hại và khổ đau, có khi tù tội, mất mạng, v.v... Tham lam có năm cách: 1. Tham tiền bạc, vật chất; 2. Tham danh; 3. Tham sắc dục (phụ nữ); 4. Tham ăn; 5. Tham ngủ. Tham lam là hành động ham muốn của tâm, còn gọi nó là “dục”. Dục có nghĩa là lòng ham muốn. “Lòng ham muốn của con người là nguyên nhân sinh ra muôn thứ đau khổ”. Nó là một trong bốn chân lý của loài người.

Tham ngủ (10Lành) ngủ nhiều, ngủ sớm, dậy trễ, thân thể lười biếng sanh ra bệnh béo phì. Ngủ nhiều thì trí tuệ tối tăm, con người trở thành biếng nhác, ít chủ động được mình, ý chí dường như không có.

Tham trước (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) là tâm tham muốn dính mắc các pháp. Toàn câu kệ “Chánh niệm không tham trước” có nghĩa là tu tập Tứ Niệm Xứ nên tâm đã khắc phục được những tham ưu trên thân, thọ, tâm, và pháp. Nhờ đó, mà tâm không còn phóng dật.

Tham ưu (Đường Về.7)(TâmThư.1) là tham muốn và phiền não, nghĩa chung là những chướng ngại pháp.

Thanh thản, an lạc và vô sự (ĐườngVề.2) là niệm thanh thản, niệm an lạc và niệm vô sự vì tâm biết rõ có những niệm đó nhưng chúng không gây chướng ngại cho tâm nên chúng ta không đẩy lui những niệm này. Niệm không chướng ngại tâm là niệm thanh thản, niệm an lạc và niệm vô sự. Người tu Ðịnh Vô Lậu câu hữu Tâm Niệm Xứ, tức là trên tâm quán tâm, khi tâm có niệm khởi mà có chướng ngại cho tâm thì phải đẩy lui niệm đó ra khỏi nội tâm. Chỗ này đức Phật dạy: “Nhiệt tâm, tỉnh giác”, tức là phải rất tỉnh, luôn cảnh giác ở niệm vừa khởi khi thấy mặt nó liền mổ xẻ xem niệm đó có gây chướng ngại cho tâm hay không, nên gọi là quán tâm tức là xem xét tư duy cho thấu suốt niệm đó.

Thanh tịnh (Phậtdạy.3)(TruyềnThống.2)(CầnBiết.4) là trong sạch, không còn nhơ bẩn, không còn uế trược, không còn bất tịnh, không còn hôi thối, v.v… Thanh tịnh là không còn tham muốn, không còn mong cầu, không còn ước mong, không còn dục. Cái gì có là có chứ không mong cầu có. Cái gì không là không chứ không ham muốn có, dù vật ấy quý giá đến đâu cũng không mong ước, cho đến những vật rất tầm thường như những vật đồ bỏ, cũng không mong cầu thì đó là mới tự thanh tịnh thân tâm, thân tâm mới trong sạch, không còn cấu uế, không còn bất tịnh, hôi thối, không còn nhiểm ô tham, sân, si, mạn, nghi nữa thì đó là nghĩa thanh tịnh. Thanh tịnh nghĩa là không làm khổ mình, khổ người. Thanh tịnh cũng còn có nghĩa là thiện pháp, trong sạch, không uế nhiễm, v.v...

Thanh tưởng (ĐườngVề.9) những hiện tượng phi không gian và thời gian của tưởng thức tạo ra như âm thanh tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng rên, v.v…

Thánh (CầnBiết.1) Theo đời thường, Thánh là người tài giỏi xuất chúng về văn học, hayvõ học mà người đời thường ca tụng xưng hô, như Thánh Trần Hưng Ðạo, Quan Thánh Ðế Quân, đức Thánh Khổng Phu Tử. Tất cả những vị Thánh này được tôn xưng như vậy, nhưng tâm họ vẫn còn phàm phu, có nghĩa là tâm họ còn tham, sân, si, mạn, nghi và còn dâm dục như bao nhiêu người khác. Còn đứng về góc độ của Phật giáo, thì Thánh của Phật giáo gọi là Thánh tăng, Thánh ni, Thánh sadi, Thánh cư sĩ, Thánh A La Hán, v.v... Những vị Thánh của Phật giáo không có võ nghệ tuyệt luân, không có văn chương hay xuất chúng, không có đánh giặc, giết người, cướp thành trì. Thánh của Phật giáo là những con người sống đúng Phạm hạnh (Giới luật), ly tham, đoạn ác pháp. Thánh của Phật giáo là tâm bất động trước các pháp ác và các cảm thọ. Thánh của Phật giáo là tâm vô lậu hoàn toàn, đầy đủ Tam Minh, Lục Thông. Thánh của Phật giáo là một người như baonhiêu người khác, nhưng có một đời sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh. Những danh từ chỉ định nghĩa Thánh của Phật giáo nghe thì dễ, không có gì cao siêu, nhưng làm không phải dễ, nhất là không làm khổ mình. Thánh của đạo Phật là từ con người phàm phu biết khắc kỷ mình, biết sửa sai những lỗi lầm, biết chế ngự lòng ham muốn, biết siêng năng hằng ngày ngăn và diệt ác pháp, biết tự nguyện sống đúng Phạm hạnh để trở thành bậc Thánh chứ không phải bằng những phương pháp bí mật, tu tập nhập thất ba năm để mong cầu sinh đặng con Thánh. Thánh mà do con đường dâm dục sinh ra không phải là Thánh theo nghĩa này. Xưa, đức Phật cũng là một người phàm phu, cũng có vợ, có con, cũng dâm dục, cũng có cha, có mẹ, sinh ra cũng chỗ bất tịnh nhơ uế, chớ đâu phải từ trên trời rơi xuống, hay dưới đất trồi lên... Tu hành đúng chánh pháp,ngăn và diệt các ác pháp trong tâm mình, biết sửa sai những lỗi lầm của mình, biết từ bỏ những tà pháp, thay vào bằng chánh pháp. Nhờ thế mà Ngài trở thành bậc Thánh A La Hán Vô Lậu, chớ đâu phải Ngài là Thánh có sẵn. Cho nên, không ai có thể sinh con Thánh, chỉ có Bát Thánh Ðạo mới sinh ra con Thánh. Từ con người phàm phu làm nên Thánh là do con đường Bát Chánh Ðạo.

Thánh đức (CầnBiết.3) gồm có bốn: Đức từ, Đức bi, Đức hỷ, Đức xả .

Thánh Đức Hiếu Sinh (TruyềnThống.1) là lòng thương yêu sự sống của muôn loài trên hành tinh này, xuất hiện theo từng cấp độ: 1- Cấp độ thứ nhất: con người biết thương con người. 2- Cấp độ thứ hai: con người biết thương các loài động vật khác. 3- Cấp độ thứ ba: con người biết thương cây cỏ và thảo mộc.

Thánh Duyên Giác (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là người xông thẳng vào cửa THỌ giữ tâm bất động: THỌ LẠC không tham, THỌ KHỔ không sợ. Từ chỗ giữ tâm bất động này phá vỡ các duyên khác như: ái, hữu, thủ, sanh, ưu, bi, sầu, khổ, bệnh, tử; do đó, thế giới quan đau khổ của Phật giáo bị sụp đổ, Người ấy chứng Thánh quả Duyên Giác A La Hán, đầy đủ Tam Minh, Lục Thông. Cho nên đức Phật gọi: “Năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong luật của bậc Thánh”.

Thánh giả hay Trưởng Lão (CầnBiết.2) là những bậc chứng quả vô lậu A La Hán.

Thánh giới luật (PhậtDạy.4) là đức hạnh của người tu sĩ, là đạo đức nhân bản - nhân quả, thường đem lại lợi ích cho mình, cho người, tức là sống không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Tâm luôn luôn bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, đó là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Thánh giới luật là pháp môn cơ bản nhất và quan trọng nhất. Nếu người tu sĩ sống Thánh giới luật nghiêm chỉnh thì Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát sẽ hiện tiền rõ ràng, thì sự tu tập không còn khó khăn, không còn mệt nhọc.

Thánh giới luật của người cư sĩ (Thánh giới uẩn của người cư sĩ) (PhậtDạy.4) gồm có: Năm giới cấm cư sĩ, tám giới Bát Quan Trai và Thập Thiện, đức Phật gọi là Thánh giới uẩn (của người cư sĩ). Nếu là người giác ngộ Thánh Giới uẩn thì phải thông suốt những đức hạnh của bậc Thánh trong những giới luật này rất rõ ràng và những sự lợi ích của những giới này đối với đời sống như thế nào đều phải rõ như thật, không còn có một giới nào không biết.

Thánh giới luật của Tỳ kheo Tăng và Tỳ kheo Ni (PhậtDạy.4) không những thông suốt những Thánh giới uẩn của người cư sĩ mà còn phải thông suốt 10 giới Sa Di, 250 giới Tỳ kheo Tăng và 348 giới Tỳ kheo Ni. Phải giác ngộ đức giới, hạnh giới và giới hành của toàn bộ đức hạnh của giới kinh như kinh Sa Môn Quả, kinh Phạm Võng. Giới kinh dạy đạo đức làm Người làm Thánh để tâm hoàn toàn vô lậu và đúng theo tinh thần tự giác tự nguyện không có bắt buộc, không có khuyến dụ, không có mua chuộc.

Thánh giới uẩn (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) là giới luật, là hành trì học giới và hạnh sống các vị Tỳ Kheo.

Thánh hạnh (CầnBiết.3) gồm có năm hạnh: Thắng hạnh, Chánh hạnh, Trực hạnh, Diệu hạnh, Tịnh hạnh.

Thánh hạnh cắt ái ly gia (TruyềnThống.2) là một hành động đạo đức thuộc về thân và tâm giải thoát của Phật giáo để trở thành một bậc Thánh Tăng, Thánh Ni. Chính gia đình là những sợi dây tình cảm của những người thân thương trói buộc rất chặt nên khó cho các bạn tu tập giải thoát.

Thánh Hạnh Ðơn Giản (CữSĩTu) là phải lấy gốc cây làm giường nằm, lấy nghĩa địa làm nhà ở, là tập hạnh buông xả, ly dục ly ác pháp, Phật sống như thế nào thì phải sống như thế nấy.

Thánh nhân (PhậtDạy.1) là người có đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh.

Thành phần của Tứ Vô Lượng Tâm (4Tâm) là: từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, và xả vô lượng.

Thành tựu Chánh niệm tỉnh giác (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) có hai giai đoạn: Giai đoạn một là không còn ngủ nghỉ phi thời, không còn hôn trầm thùy miên tấn công. Giai đoạn hai, trước tiên nên tìm một nơi cho xứng hợp với pháp môn tu tập trong giai đoạn này, đó là trú xứ thanh vắng. Nếu chưa có nơi thanh tịnh vắng lặng để tu tập ở giai đoạn hai thì chúng ta nên tu tập trở lại ở giai đoạn một cho thấm nhuần giới luật, đức hạnh hiện bày, cho phòng hộ sáu căn miên mật hơn và cho chánh niệm tỉnh giác cao hơn nữa. Ăn cơm xong, nghỉ độ một giờ, rồi ngồi tréo chân kiết già và giữ lưng thẳng để giữ gìn thân bất động trong tư thế tỉnh thức, tại nơi thanh vắng yên tịnh đã chọn trước.

Thành tựu pháp quán thân, thọ, tâm, pháp vô thường, khổ, vô ngã (Phậtdạy.3) từ bỏ được, ngăn chặn được lòng tham dục. Từ bỏ lòng tham dục thì phải nhận thấy rõ ràng từng tâm niệm dục rất vi tế, rất nhỏ nhặt. Ví dụ: tham dục ăn, tham dục ngủ, tham dục làm việc, tham dục nói chuyện, tham dục đọc kinh sách, tham dục nghe băng giảng, tham dục tu nhiều, tham dục hỷ lạc, tham dục khinh an, v.v…

Thành tựu quán hạnh (ĐườngVề.6) tức là phải tu tập Ðịnh Vô Lậu và thành tựu Ðịnh Vô Lậu tức là lìa ác pháp cho rốt ráo, và khi đã lìa ác pháp là nhập Sơ Thiền.

Thành tựu Thánh giới uẩn (CầnBiết.3) là thành tựu phần một trong giai đoạn tu tập thứ nhất mà người tu sĩ cần phải nhiếp phục tâm mình và giữ gìn trọn vẹn những Thánh giới này.

Thành tựu trí tuệ về sanh diệt (PhậtDạy.1)(CầnBiết.4) là thành tựu trí tuệ Lậu Tận Minh, chứ không phải có trí tuệ nhớ lại nhiều đời nhiều kiếp mà thôi. Muốn thành tựu trí tuệ về sự sống chết thì phải dùng năng lực Trạch Pháp Giác Chi mà dẫn trí tuệ về sanh tử, về Bát Thánh Ðạo, về nhân quả. (Khi thành tựu trí tuệ về sanh tử xong thì tiếp tục dùng Trạch Pháp Giác Chi dẫn trí tuệ nhập vào Thánh thể (Niết Bàn) để hoàn toàn đoạn tận khổ đau. Đây là phương pháp cuối cùng trong bảy pháp tu tập trong Ðạo Phật).

Thành tựu viên mãn giới luật (ĐườngVề.6) đức Phật dạy hãy sống đầy đủ giới hạnh, sống đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và học tập các học giới, và phải thực hiện “Ðịnh Tư Cụ” tức là thực hiện ba loại định: Chánh Niệm Tĩnh Giác Ðịnh, Ðịnh Niệm Hơi thở và Ðịnh Vô Lậu. Phải kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trụ xứ không tịch.

Thảo phú địa (GiớiĐức.2) có hai nghĩa: 1- Khi sự tranh chấp khởi lên, có một số đông người tranh chấp, và lôi cuốn theo cả chúng, xét về nguyên gốc của tội khó tìm ra manh mối, muốn để chấm dứt sự tranh chấp đó, Ðức Phật cho phép theo kiểu trải cỏ che lấp, có nghĩa là khuyên lơn trong chúng nên bỏ đi để đem lại sự yên tĩnh tu hành là tốt hơn hết. 2- Có một vị thượng tọa đầy đủ đức hạnh trình bày lời nói hòa giải để dứt tranh chấp. Hai chúng phải đối diện nhau trải hết tâm can mà sám hối. Cả hai chúng đều lấy mục đích đức hạnh không làm khổ mình khổ người, để có sự hỗ trợ hòa giải với nhau cho được tốt đẹp, lấy sự tu hành giải thoát làm chánh.

Thảo phú địa diệt trách (GiớiĐức.2) là không xưng nói danh tội, chủng tội mà chỉ nói sám hối (là pháp như cỏ che đất). Nghĩa là các thầy tỳ kheo tranh chấp với nhau vì hòa hợp đoàn kết, vì sự giải thoát thân tâm thanh thản và an lạc của nhau, vì ly dục, ly ác pháp để tâm hồn được giải thoát có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Thảo phú địa diệt trách là pháp môn tùy thuận mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi sự việc, nên không bao giờ có sự rầy rà xảy ra.

Thắng trí (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) là trí tuệ chiến thắng mọi ác pháp và các cảm thọ, một trí tuệ không bao giờ chịu khuất phục trước mọi trở ngại, gian nan hay mọi việc khó khăn nào, luôn luôn giành phần thắng về mình. Có thắng trí như vậy là có sự chiến thắng vẻ vang trong trận giặc sanh tử luân hồi. Người có thắng trí là người thành tựu đạo giải thoát dễ dàng. Người có thắng trí mới xứng đáng là đệ tử của đức Phật, mới xứng đáng là Bà La Môn chân chánh.

Thắng tuệ (PhậtDạy.2) là trí tuệ chiến thắng mọi ác pháp. Thắng tuệ tức là tri kiến giải thoát do sự tu tập Ðịnh Vô Lậu mà có. Ví dụ: Người ta hay mạ nhục, chửi mắng mình, mà mình nghe, thấy, biết rõ ràng, nhưng tâm không hề có chút giận hờn. Nghe, thấy, biết mà không khởi tâm giậïn hờn, phiền não, đó là Thắng tuệ. Thắng tuệ tức là tri kiến giải thoát do sự tu tập Ðịnh Vô Lậu mà có.

Thâm nhập giới luật (PhậtDạy.4) là nhập vào giới luật làm tâm bất động; giới luật là mình, mình là giới luật. Có như vậy mới được gọi là ly dục ly ác pháp; mới được gọi là ngăn ác diệt ác pháp; mới được gọi là sinh thiện tăng trưởng thiện pháp; mới được gọi là các pháp ác không nên làm, nên làm các pháp thiện. Thâm nhập như vậy mới được gọi là nhập lưu.

Thân (PhậtDạy.4)(CầnBiết.5)(ĐạoĐức.2)(OaiNghi)(ChùaAm) là cơ thể do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành, gọi là thân tứ đại. Bản chất của thân tứ đại là vô thường, là khổ, vô ngã, thường hoại diệt, mạng sống của thân chỉ có bảy, tám mươi năm hoặc 100 năm là cao. Thân là một pháp vô thường, không phải là ta, là của ta, nhưng nó rất quan trọng trong việc tu tập để làm chủ sinh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi, nên phải được bảo vệ để tu tập đến nơi đến chốn. Thâncó ba hành động ác gốc: 1. Giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh. 2. Trộm cắp, cướp giựt của người khác. 3. Dâm dục. Muốn làm chủ Thân thì chúng chia ra làm ba giai đoạn tu tập: - Giai đoạn một phải tu tập làm chủ sự yếu đuối của thân già. - Giai đoạn hai phải tu tập làm chủ khi thân bệnh. - Giai đoạn ba phải tu tập làm chủ khi thân chết. Nếu trong việc tu hành theo phương pháp này, mọi người đều siêng năng giữ gìn tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự thì họ sẽ làm chủ sinh, già, bệnh, chết không còn thấy khó khăn nữa.

Thân ác hạnh (CầnBiết.4) là hành động của thân làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh.

Thân căn (TâmThư.1) là cơ thể.

Thân cận giao thiệp (PhậtDạy.4) là thân cận giao thiệp với thiện hữu tri thức để đạt đến mục đích chân lí cứu cánh, không có thiện hữu tri thức thân cận thì hành giả chịu thiệt thòi rất nhiều trên đường tu tập. Đừng nghĩ rằng cứ dựa vào kinh sách thì biết cách thức tu tập. Hầu hết những danh từ trong kinh sách mà tự hiểu thì kiến giải ấy sẽ đưa hành giả vào chỗ chết, chỗ bệnh tật, điên khùng, loạn thần kinh, v.v... tu hành chẳng tới đâu, chỉ sống trong tưởng mà thôi.

Thân cận Thiện Hữu Tri Thức (TrợĐạo) thân cận với những người tu chứng đạo.

Thân có bệnh (TâmThư.1) thì tu tập pháp Ðịnh Niệm Hơi Thở.

Thân giáo (TâmThư.2) Khi dạy đạo đức phải ăn mặc tề chỉnh, khi thuyết giảng không được đưa tay lên xuống theo điệu bộ; phải giữ gìn oai nghi tế hạnh, tâm phải bất động trước các ác pháp và các cảm thọ; phải biết nhẫn nhục giữ tâm im lặng như Thánh khi gặp chuyện bất bình, phải biết lúc cần nói thì nói, lúc không cần nói thì sống độc cư một mình, không tập họp nói chuyện, im lặng không nói thì mới sống độc cư, có sống độc cư thì mới phòng hộ sáu căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý; phải thấy trách nhiệm bổn phận của mình là người làm gương sáng cho người soi. Thân giáo là như vậy, nếu làm sai thì gương sáng không còn là gương sáng nữa, và như vậy thì không thể nào Thân giáo dạy người tu được. Vừa triển khai tri kiến giải thoát tâm vô lậu, vừa thực hành giới đức oai nghi tế hạnh đạo đức sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.

Thân hành (PhậtDạy.1)(PhậtDạy.2)(Phậtdạy.3)(ĐườngVề.5)(ĐườngVề.10)(CầnBiết.3)(CầnBiết.4) là những hành động nơi thân khi thân làm mỗi công việc hằng ngày, v.v... Thân hành sự hoạt động. Sự hoạt động của thân có hai phần: 1- Thân hành ngoại là sự đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín hoặc làm tất cả mọi công việc dù lớn, dù nhỏ, dù nhẹ, dù nặng, v.v… 2- Thân hành nội là sự hoạt động trong nội thân như: sự hoạt động của tế bào; sự hoạt động của thần kinh; sự hoạt động của sự tuần hoàn máu; sự hô hấp là hơi thở ra vô, là sự hoạt động tự động của thân để tiếp nhận dưỡng khí bên ngoài tạo thành sức sống của cơ thể;hoạt động bài tiết chất thải; v.v… Về phần thân hành nội trong thân thì trong khi chúng ta tu tập xả ác pháp cho tâm thanh tịnh chỉ có điều khiển được hơi thở tức là về phần hô hấp, còn tất cả những sự hoạt động nội thân khác chúng ta không thể điều hành được. Trong thân có rất nhiều hành động mà Ðạo Phật lấy đó làm niệm để tu tập tỉnh thức gọi là Thân Hành Niệm. Cho nên khi sử dụng thân hành nội cũng như thân hành ngoại chỉ tu tập cho tâm được tỉnh thức mà thôi, chứ nó không phải thiền định gì cả. Nương vào thân hành niệm là mục đích để tu tập tỉnh giác mà thôi, chứ nó không phải thiền định gì cả. Nếu hành giả tu tập mà cứ trên thân hành tập trung tâm thì sẽ bị ức chế, tâm bị ức chế thì sẽ rơi vào thiền tưởng và tu tập như vậy chẳng bao giờ có ly dục ly ác pháp, có nghĩa là chẳng bao giờ lìa hết tâm tham, sân, si. Kinh nói: “Khi đi tới, đi lui, tỉnh giác; khi ngó tới, ngó lui, tỉnh giác; khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác, khi mang áo sanghati (tăng già lê) mang bát, mang y tỉnh giác; khi ăn uống, khi nhai, khi nếm tỉnh giác; khi đại tiện, tiểu tiện tỉnh giác, khi đi, đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng, đều tỉnh giác”. Ðây chỉ là những hành động chung của thân, xin xác định cho rõ ràng hơn để biết phản tỉnh lại các hành động nơi thân. Thân hành hoạt động gồm có ba nơi: 1- Thân, 2- Miệng, 3- Ý. Như vậy muốn tỉnh giác trên thân hành thì hãy phản tỉnh lại thân, miệng, ý, là hãy chủ động điều khiển thân hành, khẩu hành và ý hành, khiến cho thân hành, khẩu hành, ý hành không có lỗi lầm, tức là Chánh Niệm, còn có lỗi lầm là có Tà Niệm. Phản tỉnh lại thân hành, khẩu hành và ý hành là tỉnh giác, nói chung là chú ý (điều khiển) các hành động của thân.

Thân hành nghiệp (Truyền Thống.1) là thân làm một việc gì,

Thân hành ngoại (PhậtDạy.1) là hoạt động bên ngoài thân gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, co tay, duỗi chân, nói nín, cúi, gật, v.v...

Thân Hành Niệm (PhậtDạy.2)(MuốnChứngĐạo)(TâmThư.2) là một pháp môn nhưng gồm chung các Thân Hành. Các Thân Hành trong thân gồm có: 1.-Thân hành do tay, chân. 2.-Thân hành do miệng lưỡi. 3.-Thân hành do ý thức. Tu tập pháp môn Thân hành Niệm là tu tập tất cả 3 hành động Thân, Miệng, Ý. Thân Hành Niệm gồm có 13 pháp môn được tu tập theo đặc tướng của riêng từng người thì kết quả cụ thể rõ ràng thấy ngay sự giải thoát trong từng giây phút tu tập. Nhưng tìm ra pháp môn phù hợp với đặc tướng của mình thì quá khó. Thân Hành Niệm là đi theo lệnh truyền, chứ không phải cảm giác toàn thân. Cảm giác toàn thân là tu sai. Pháp môn Thân Hành Niệm là pháp môn duy nhất trong 37 phẩm trợ đạo của Phật giáo để chúng ta tu tập đi đến kết quả cuối cùng là sự chứng đạo. Thân Hành Niệm Thực hànhcó nghĩa là làm theo phương pháp đã dạy, phương pháp dạy như thế nào thì làm đúng như thế nấy. Thân Hành Niệm Tu tập có nghĩa là sửa đổi tâm tánh, thiện xảo trong các pháp thực hành, biết linh động khi thực hành cho phù hợp trong mọi tình huống, mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh… không có nghĩa là ngồi thiền, gõ mõ tụng kinh, niệm chú, niệm Phật. Chữ tu tập của Phật giáo có nghĩa là tu sửa đổi những lỗi lầm, để không còn lỗi lầm nữa, để từ bỏ thói hư tật xấu, để từ người xấu trở thành người tốt, để từ phàm phu trở thành Thánh nhân, nghĩa là thực hành nhưng thực hành rất linh động nhằm thực hiện đạo đức làm người, làm Thánh. Thân Hành Niệm Làm cho sung mãn có nghĩa là cho nhuần nhuyễn, làm cho nhịp nhàng, làm cho thành một thói quen từ hành động này chuyển sang những hành động khác một cách tự nhiên rất là đầy đủ trong pháp Thân Hành Niệm, không còn thiếu sót một hành động nào. Làm cho sung mãn, còn có nghĩa là làm cho khỏe mạnh, làm cho dồi dào năng lượng tăng cường năng lực. Thân Hành Niệm Làm cho kiên trì có nghĩa là khi cỗ xe Thân Hành Niệm đã trở thành căn cứ địa thì lúc bấy giờ tăng dần thời gian lên từ 1 đến 5 giờ, từ 5 giờ đến 10 giờ, sự tăng thời gian lên như vậy gọi là kiên trì trên pháp Thân Hành Niệm. Thân Hành Niệm Làm cho tích tập có nghĩa là tích lũy sự tu tập càng lúc càng kiên cố và chặt chẽ hơn khiến không cho một chướng ngại pháp nào tác động vào thân tâm được. Nếu các bạn chỉ cần thiện xảo một chút thì pháp Thân Hành Niệm sẽ linh động tạo thành một nội lực mãnh liệt vô cùng. Thân Hành Niệm Khéo tinh cần thực hành có nghĩa là từ lúc bắt đầu tu tập pháp Thân Hành Niệm là phải khéo siêng năng cần mẫn tu tập không được gián đoạn bỏ qua một giờ, một phút, một giây nào cả, phải cố gắng tinh cần tập luyện thì mới thấy được những kết quả của pháp môn nầy.

Thân Hành Niệm làm thành căn cứ địa (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) là người tu hành khi ôm pháp Thân Hành Niệm phải kết hợp chặt chẽ từ hành động này đến hành động khác liên tục không có một kẽ hở, những hành động ấy phải miên mật kín như tường đồng vách sắt nên hôn trầm, thùy miên, loạn tưởng, hôn tịch, ngoan không và vô ký không xen vào được và cũng không để các cảm thọ như: Thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất thọ khổ tác động vào thân tâm được. Khi nào thấy pháp Thân Hành Niệm không có một chướng ngại pháp nào tác động vào thân tâm được thì pháp Thân Hành Niệm đã trở thành căn cứ địa. Khi tu tập Thân Hành Niệm đã tạo thành căn cứ địa thì chúng ta muốn một điều gì thì chỉ cần hướng tâm với thắng trí của ta thì sẽ thấy kết quả ngay liền, có nghĩa là ta điều khiển thân tâm một cách dễ dàng với ý muốn của ta (thắng trí). Khi chúng ta tu tập pháp môn Thân Hành Niệm đã trở thành căn cứ địa thì bắt đầu chúng ta điều khiển thân tâm như cổ xe ngựa. Nếu tu tập pháp Thân Hành Niệm mà tạo được một căn cứ địa thì sự tu tập của chúng ta mới hoàn thành viên mãn. Ví dụ: khi tu tập pháp Thân Hành Niệm biến thân tâm làm một căn cứ địa thì không bao giờ có giặc loạn tưởng, giặc hôn trầm thùy miên giặc vô ký, trạo cử, giặc cảm thọ. Còn ngược lại, khi còn bị những chướng ngại kể trên tác động vào thân tâm được thì pháp môn ấy chưa trở thành căn cứ địa. Khi nào thấy pháp Thân Hành Niệm không có một chướng ngại pháp nào tác động vào thân tâm được là nó đã trở thành căn cứ địa.

Thân Hành Niệm như một cổ xe kiên cố (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) Trong lúc pháp môn Thân Hành Niệm chưa thành căn cứ địa, nhưng nó vẫn thành tựu như một cổ xe kiên cố, tuy rằng nó còn có mọi chướng ngại pháp xâm chiếm vào, nhưng cứ ôm pháp tiến lên để vượt qua các chướng ngại ấy để chiếc xe Thân Hành Niệm không dừng lại. Như vậy là đã kết hợp các Thân Hành Niệm thành được cổ xe kiên cố. Nếu cổ xe bị đứng lại khi bị những chướng ngại pháp thì chưa kết hợp các Thân Hành Niệm trở thành cổ xe mà chỉ mới tu tập pháp Thân Hành Niệm mà thôi.

Thân hành niệm nội (ĐườngVề.6)(MuốnChứngĐạo) tức là hơi thở, trong kinh sách Nguyên Thủy gọi pháp môn hơi thở là “Ðịnh Niệm Hơi Thở”. Ðịnh Niệm Hơi Thở cũng là một pháp môn ngăn ác diệt ác pháp tuyệt vời. Hai loại thiền định này (Chánh Niệm Tĩnh Giác Ðịnh và Ðịnh Niệm Hơi Thở) là những pháp môn ngăn chặn mười pháp ác. Nếu hành giả siêng năng, chuyên cần, tinh tấn tu tập thì các pháp ác không xen vào được trong tâm, vì thế, tâm không phóng dật, luôn hướng vào trong thân và định vào thân, tâm hồn hành giả lúc nào cũng thanh thản, an lạc và vô sự, cuộc sống trở thành trầm lặng, thánh thiện và độc cư.

Thân hành niệm trong tất cả thời không mất oai nghi (Phậtdạy.3) là đi tôi biết tôi đi, đứng, nằm, ngồi hay hít thở đều biết không quên.

Thân Hành Niệm tu tập trên Tứ Niệm Xứ (PhậtDạy.2) giai đoạn này là giai đoạn cuối cùng của Tứ Niệm Xứ: tu tập rèn luyện ý thức lực cho mạnh mẽ để truyền lệnh thực hiện Tứ Như Ý Túc.

Thân hành nội (PhậtDạy.1) hoạt động bên trong thân gồm có: hơi thở, đó là sự hoạt động về hô hấp (phổi). Hơi thở ra, vô là sự hoạt động tự động của thân để tạo thành sức sống của cơ thể để tiếp nhận dưỡng khí (gió) bên ngoài. Mạch máu khắp châu thân đang chuyển tải máu đi, máu về. Ðó là sự hoạt động về tuần hoàn (tim) gan, bao tử, ruột bộ óc và các tế bào đều đang hoạt động trong thân là thân hành nội.

Thân hành thanh tịnh (Phậtdạy.3) là hằng ngày trong mỗi hành động của thân đều phải tránh làm điều ác, luôn làm điều thiện, tức là không làm khổ mình, khổ người.

Thân hành thiện (ĐườngVề.2) là thân không giết hại chúng sanh, không ăn thịt chúng sanh, không làm đau khổ chúng sanh và phải ý tứ để thân không vô tình giẫm đạp làm đau khổ chúng sanh, là thân không lấy của không cho dù là vật nhỏ mọn như cây kim sợi chỉ, trái cà, trái ớt, cũng không được lấy, là thân không tà dâm, đối với người cư sĩ, nghĩa là khi có vợ con hoặc có chồng con thì không được dâm dục với người khác, dâm dục với người khác sẽ làm đau khổ gia đình mình và đau khổ gia đình người khác, còn người tu sĩ thì không nên dâm dục vì dâm dục tức là thân hành ác pháp tạo ra sự khổ cho mình cho người và làm cho Phật Pháp suy đồi.

Thân hòa đồng trụ (ThanhQui) là thân luôn luôn sống chung với mọi người bằng cách hòa đồng từ cách thức ăn uống, ngồi nằm đều phải giống nhau. Còn mặc thì những áo quần đều phải mặc giống nhau. Tu sĩ Việt Nam không nên chịu ảnh hưởng ăn mặc y áo theo kiểu Phật giáo của các nước khác. Ở trong thất cũng phải ăn mặc gọn gàng nghiêm trang, khi tu tập ngồi hay đi, đứng, nằm cũng như khi ăn cơm đều phải vấn y hay mặc chiếc áo tràng cho nghiêm trang.

Thân khinh an, người ấy có cảm giác lạc thọ (CữSĩTu) người có niềm vui thì thân được nhẹ nhàng an lạc. Khi thân được nhẹ nhàng an lạc thì toàn bộ thân tâm có một cảm giác thọ lạc một cách kỳ lạ mà không thể có từ nào có thể diễn đạt được. Chỉ có người tu tập đến những trạng thái đó mới cảm nhận được, như người uống nước nóng lạnh tự biết, người ngoài cuộc không thể biết được.

Thân kiến (Đường Về.7)(CầnBiết.3) Thân kiến tức là cái kiến chấp về thân, coi trọng cái thân, nó làm giảm nghị lực để chiến thắng mọi khó khăn, mọi hoàn cảnh về thời tiết, bệnh hoạn, nó luận tu pháp này dễ hơn, khỏe hơn (thí dụ: Vô vi, Yoga) để xa dần pháp môn chân chánh của đạo Phật. Nó là một trong bảy kiết sử trói buộc và sai sử chúng ta như một tên nô lệ rất khó mà bứt bỏ. Vì không hiểu rõ thân kiến nên lầm chấp thân ngũ uẩn tứ đại giả hợp này cho là Ta, là của Ta, là bản ngã của Ta. Trên đời, người ta khổ vì chấp thân là của ta, gặp hoàn cảnh khó khăn, gặp việc khó khăn, gặp khí hậu thời tiết, bệnh tật khó khăn là ta đi tìm cách tránh né cho khỏe thân hơn, tức là chấp ngã. Tu hành là phải xả tâm; diệt ngã, ly dục, ly ác pháp quá khó khăn, khiến cho thân tâm phải mệt nhọc từng phút, từng giây, để chiến đấu làm chủ đời sống của mình. Vì tu hành quá vất vả, nhiều người nản chí và thối tâm chạy theo tu các pháp môn Tịnh Ðộ, Mật Tông, Thiền Tông, Vô vi, Yoga, v.v... Tất cả những lý luận này là lý luận chấp ngã, nuôi dưỡng ngã.

Thân kiến kiết sử (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4)(TruyềnThống.2) là hạ phần kiết sử, là phiền não của ngã kiến tức là do chấp ngã mà sinh ra phiền não. Thân kiến kiết sử là sợi dây chấp ngã trói chặt quá nặng, nếu ai đụng đến ngã mình là không chấp nhận, chống đối lại liền. Ví dụ: Sự hiểu biết chấp thân này là ta, là của ta, là bản ngã của ta và còn cho trong thân này có Phật tánh, linh hồn, thần thức, tiểu ngã, v.v... Muốn diệt trừ hạ phần kiết sử này thì chỉ có tu pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Thân nghiệp (TâmThư.1) Bào thai là thân nghiệp. Hình thành thân ngũ uẩn gọi là nghiệp mà bào thai là thân ngũ uẩn do các duyên hợp lại tạo thành.

Thân nghiệp ác, khẩu nghiệp ác và ý nghiệp ác (10Lành) là thường hay bị bệnh tật, hoạn nạn, hoặc những điều bất như ý.

Thân nghiệp không thanh tịnh (PhậtDạy.2) có nghĩa là thân còn thích dục lạc (như ăn uống phi thời), thân hay bệnh tật đau yếu, thân thích dâm dục, thân hay đốt lửa giết hại chúng sanh, thân lười biếng ưa thích ngủ nghỉ, thân hay làm những điều ác làm chết và đau khổ các loài chúng sanh, thân đi đứng không nhẹ nhàng đằm thắm, thân còn đỏ mặt tía tai, thân còn muốn co tay đánh người khác, vật khác, v.v… Nói chung thân nghiệp không thanh tịnh gồm có ba hành động chính: 1- Thân có những hành động ác như trộm cắp cướp giựt lấy của không cho. 2- Thân ưa thích dâm dục, ưa thích nói chuyện người khác phái, thân có hành động thủ dâm. 3- Thân giết hại chúng sanh, làm cho chúng sanh đau khổ.

Thân nhân quả (PhậtDạy.4)(CầnBiết.2) là thân ngũ uẩn của chúng ta. Trong thân nhân quả chỉ thuần có một vị khổ, không có vị giải thoát, nếu chúng ta không tu tập đúng chánh pháp thì không bao giờ có vị giải thoát. Vì thân nhân quả là thân vô thường, nghĩa là phải có bệnh tật và khổ đau, dù người đó đã tu chứng đạo như đức Phật, có thân phải có bệnh tật cũng như mọi thân người khác. Nhưng đạo Phật làm chủ sanh, già, bệnh, chết một cách dễ dàng, không có khó khăn, không có mệt nhọc. Vì thế, đối với bệnh tật đức Phật chỉ dùng Chánh Niệm Tỉnh Giác và tinh tấn tác ý đẩy lui bệnh tật ra khỏi thân Tứ Ðại.

Thân nhân quả vô thường (ĐườngVề.5) là thân sanh, già, bệnh, chết thì người tu hành chỉ làm chủ sanh, già, bệnh, chết, chứ không phải làm chủ cái thân giả tạo vô thường duyên hợp, nên sự sanh, già, bệnh, chết của nó phải đến với nó nhưng sự sanh, già, bệnh, chết của nó không tác động vào tâm người tu chứng được. Vì thế sanh, già, bệnh, chết không còn làm tâm họ dao động. Ðó là giai đoạn làm chủ thứ nhất của người tu chứng. Giai đoạn làm chủ thứ hai: Khi có sanh, già, bệnh, chết đến thì người tu chứng sẽ làm chủ cái đó, bằng cách dùng đạo lực đẩy lui để lúc nào thân tâm cũng thanh thản và an lạc, không có khổ não. Ví dụ: Làm chủ sanhkhi cuộc sống chúng ta có xảy tai nạn, tranh tụng, ham muốn, thèm khát, sợ hãi, lo toan, v.v... Người tu chứng sẽ dùng trí tuệ nhân quả quán xét thì ngay đó tâm sẽ được an ổn không còn buồn lo, sợ hãi, sân hận, v.v... Còn khi khởi tâm ham muốn cái này, cái khác thì người tu chứng dùng trí tuệ Tứ Niệm Xứ quán xét các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã thì tâm ham muốn (tham dục) dừng liền. Làm chủ già, thân hành, khẩu hành, ý hành, tịnh chỉ, tức là tịnh chỉ tầm tứ. Một người tu chứng tới tuổi già tám mươi vẫn quắc thước, đi đứng vững vàng, không run rẩy, không lụm cụm, trí tuệ sáng suốt không lẫn lộn, v.v... đó là làm chủ già. Làm chủ bệnh, khi thân có bệnh đau nhức khổ sở, người tu chứng làm chủ bệnh thọ này thì phải ly hỷ trú xả nhập Tam Thiền, từ nơi trạng thái Tam Thiền theo pháp như lý tác ý xả thọ khổ, tức là sau khi trú được xả, tức là nhập Tam Thiền. Khi đã nhập Tam Thiền xong liền xả lạc, xả khổ, xả lạc xả khổ, tức là xả thọ, tức là xả sự đau khổ của thân. Ở đây các bạn nên nhớ, phần nhiều bệnh đau của con người đều do tưởng sanh ra bệnh, vì thế khi nhập Tam Thiền đã ly tưởng, do ly tưởng mà tâm không dao động trước các cảm thọ, nên xả cảm thọ rất dễ. Ðó là làm chủ bệnh bằng thiền định. Còn làm chủ bệnh bằng pháp môn Ðịnh Niệm Hơi Thở: Khi thân có bệnh liền nhiếp tâm an trú vào hơi thở rồi dùng pháp như lý tác ý: “Thọ là vô thường, bệnh (nói tên bệnh ra)... ra khỏi thân ta. An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”, khi tác ý xong liền hít thở năm hơi thở rồi lại tác ý lại câu trên. Cứ tu tập như vậy cho đến khi hết bệnh. Còn phương pháp làm chủ bệnh bằng Tứ Thần Túc, thì chỉ cần hướng tâm về thân không bệnh là bệnh hết ngay. Làm chủ chết, khi thân suy yếu sắp chết, ta tịnh chỉ hơi thở nhập Tứ Thiền, hướng tâm xả bỏ thân tứ đại nhân quả một cách dễ dàng, không có mệt nhọc, không có đau khổ, không có ngộp thở, chết một cách yên nhàn và thanh thản. Làm chủ sanh, già, bệnh, chết có hai phần: 1/ Phần thứ nhất: Làm chủ tâmbất động trước cảnh sanh, già, bệnh, chết. 2/ Phần thứ hai: Làm chủ trực tiếp tịnh chỉ các đau khổcủa sanh, già, bệnh, chết của thân xảy đến, tức là trực tiếp tịnh chỉ các trạng thái đau khổ của sanh, già, bệnh, chết chứ không phải ngăn chặn không cho sanh, già, bệnh, chết hoặc ngăn chặn tai nạn đến với thân này. Thân nhân quả thì phải vay trả những điều thiện ác trước kia đã tạo ra, nên không thể ngăn chặn nhân quả được, tức là dừng nhân quả. Ðạo Phật dạy làm chủ nhân quả, vượt qua nhân quả, chuyển nhân quả, chứ không dạy ngăn chặn và dừng nhân quả, chỉ có làm chủ tâm không tạo thêm nhân quả ác nữa.

Thân tâm ở trạng thái bất động tâm (PhậtDạy.4) là tất cả các ác pháp không tác động vào thân được tức là tâm ở trong trạng thái vô tướng tâm định, hay nói cách khác là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm lúc bấy giờ hoàn toàn không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Tâm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu mới gọi là tâm bất động; mới được gọi là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

Thân Thiện Hành (PhậtDạy.2)(CầnBiết.4) là tất cả hành động nơi thân, không làm khổ mình không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh. Muốn tu Thân Thiện Hành thì hằng ngày phải tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp. Tu như vậy là tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần. Ðây là thân hành tu tập Tứ Chánh Cần, nên gọi là Thân Thiện hành.

Thân thường thể hiện hạnh từ bi (PhậtDạy.4) là thân thường hành động không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh. Nhất là không bao giờ ăn thịt lẫn nhau, là mỗi hành động phải thực hiện lòng yêu thương sự sống của muôn loài trên hành tinh này.

Thân trần (TâmThư.1) là Xúc (cảm giác êm, ấm, cứng mềm,…), đối tượng cảm giác của thân là tính mền cứng nóng lạnh của vạn vật.

Thân tứ đại (PhậtDạy.4)(TâmThư.1) là thân nhân quả, gồm có sáu căn, sáu trần và sáu thức. Có sáu căn, sáu trần sáu thức mới có cái biết của sắc, thinh, hương, vị, xúc, vị, pháp. Trong lúc còn đang mang thân tứ đại này tu tập giới luật đức hạnh, Định Vô Lậu phải dùng sáu căn, sáu trần và sáu thức. Sau khi chứng đạt chân lý và vào Niết Bàn thì căn, trần, thức này đều bỏ luôn vì nó không phải là ta, không phải là của ta và không phải là bản ngã của ta. Nó là các pháp hữu vi nên vô thường và hoại diệt, trong đó không một vật gì còn tồn tại để gọi là Phật Tánh. Quán Thân tứ đại là vô thường như bệnh tật, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Thân tứ đại là thân vô thường phải có bệnh tật và khổ đau như những thân nhân quả khác, dù người đã tu chứng đạo như đức Phật, nhưng đạo Phật làm chủ sanh, già, bệnh, chết chỉ dùng Chánh Niệm Tỉnh Giác (trong pháp môn Tứ Chánh Cần, gồm có: 1 - Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh, 2 - Ðịnh Vô Lậu, 3 - Ðịnh Sáng Suốt, 4 - Ðịnh Niệm Hơi Thở) và tinh tấn tác ý đẩy lui bệnh tật ra khỏi thân Tứ Ðại. Chánh Niệm Tỉnh Giác chỉ là để chịu đựng cơn đau. Cho nên, khi có những cơn đau như dao cắt ruột thì giữ tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác trên Thân Hành Niệm Nội (hơi thở) hay Thân Hành Ngoại (hành động tay chân). Nhờ giữ tâm tỉnh giác trên thân hành ta mới chịu đựng được những cơn đau như ai cắt ruột, bứt gan. Nếu không chịu rèn luyện tu tập cho thuần thục, nhu nhuyễn pháp môn này thì rất khó cho ta chiến thắng chúng. Dùng những pháp môn này để đối trị những ác pháp đang tấn công ào ạt vào thân tâm; dùng những pháp môn này để tâm bất động hoàn toàn, ly dục ly ác pháp được trọn vẹn. Ðó là phương pháp vượt qua cơn đau, chứ không phải là phương pháp trị cơn đau. Đức Phật lấy sức tinh tấn, rồi nhiếp tâm thanh thản, an lạc và vô sự, khi tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì tâm định trên hơi thở ra hơi thở vào một cách nhẹ nhàng rõ ràng và cụ thể. Khi biết tâm đã định trên hơi thở như vậy thì tác ý nhắc: “Thọ là vô thường cái đau bệnh (phải chỉ rõ bệnh gì, Bệnh ở đâu) này phải đi khỏi nơi thân tâm ta” Khi tác ý xong câu này thì tiếp tục tác ý câu thứ hai: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”.Khi tác ý xong thì cứ bám cho chặt trong hơi thở vô, hơi thở ra, ý thức chỉ biết hơi thở vô ra đều đặn, đừng lưu ý đến bệnh đau, thỉnh thoảng lại tác ý: “Thọ là vô thường cái thân bệnh này hãy đi! Ði! Ði cho khỏi thân ta”.

Thân túc tưởng thông (Phậtdạy.3) là một loại thần thông của ngoại đạo biến hóa muôn hình, vạn trạng còn gọi là thần túc tưởng thông.

Thân tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) cái cảm xúc của tưởng uẩn không phải bằng cảm xúc thân thức (nhục thân) của chúng ta.

Thân tưởng thông (CầnBiết.4) là một loại thần thông của ngoại đạo biến hóa muôn hình, vạn trạng còn gọi là thần tưởng túc thông.

Thần giáo (PhậtDạy.4) là một tôn giáo mê tín, thường lường gạt người, để làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác.

Thần lực phi thường (MuốnChứngĐạo) có 6 - Thứ nhất: cứu mình ra biển khổ sinh tử. - Thứ hai: mình có đủ trí tuệ và thần lực để giúp người. - Thứ ba: mình sống một đời sống tự tại vô ngại không một vật gì cản trở. - Thứ tư: làm sống lại những gì của Phật giáo đã bị ngoại đạo dìm mất. - Thứ năm: nhờ tu tập chứng đạo nên đã tạo lòng tin của mọi người đối với Phật giáo. - Thứ sáu: nhờ tu tập chứng đạo nên làm ánh sáng soi đường cho mọi người cùng đi.

Thần thông (ĐườngVề.1)(GiớiĐức.1)(ĐạoĐức.2)(TâmThư.1) chỉ là một năng lực của tưởng uẩn trong ngũ uẩn của một con người, khi một nhà làm tôn giáo thường tập luyện làm cho năng lực tưởng phát triển, dùng nó để tạo ra thế giới siêu hình và những trạng thái lạ lùng. Nhờ đó lừa đảo, dụ dỗ người khác tin tưởng, gia nhập theo tôn giáo của mình. Lấy số tín đồ đông đảo tạo cho mình một thế lực để đương đầu với mọi thế lực khác. Thế lực chỉ phục vụ danh và lợi cho cá nhân của giáo chủ. Chẳng bao giờ chúng ta thấy sự bình an chân thật trong các tôn giáo, mà chỉ là một sự bình an ảo tưởng trong tinh thần của chúng ta mà thôi. Ví dụ: có bao giờ một tôn giáo đem thần quyền ra dẹp giặc ngoại xâm? Hay phải biết bao máu xương của người dân trong nước ấy đổ xuống kiên cường chông ngoại xâm. Lịch sử của mỗi dân tộc đã chứng minh điều này. Ðất nước Tây Tạng huyền bí tập trung về những thần thông kỳ lạ ở xứ này. Nhưng khi giặc đến xâm chiếm đất nước này, thì chính Phật Sống Lạt Ma đã chạy bỏ nước đi lưu vong xứ người. Phật giáo Tây Tạng là thần thông đệ nhất, sao các nhà sư không đem ra giải cứu quê hương của mình. Vậy những người tu tập theo Phật giáo Tây Tạng có thần thông để làm gì? Xem thế chúng ta biết rằng thần thông chỉ là một trò ảo thuật biểu diễn giải trí, chứ chẳng có lợi ích gì cho dân, cho nước. Ðạo đức nhân bản - nhân quả không chấp nhận những trò lừa đảo dưới những danh hiệu nào. Một khi tôn giáo ngầm chứa bên trong một điều phi đạo đức thì lần lượt nhân quả sẽ làm tan vỡ những tấm bình phong, để mọi người thấy rõ bản chất gian xảo, lừa đảo của tôn giáo. Thần thông là những trò ảo thuật của “tưởng thức” mà thiên hạ tưởng là thật, nên sanh tâm ham mê chạy theo tìm nó. Xưa Ðức Phật không chấp nhận những trò ảo thuật thần thông này, Ngài cấm những đệ tử của mình không được thực hiện thần thông bừa bãi. Phải nói trong tất cả các thời đại, thời nào người ta cũng đều ham mê thần thông, cho đến thời đại khoa học hiện giờ người ta vẫn còn lạc hậu đam mê dù người có trình độ học thức rất cao, nhưng họ vẫn mù mờ không rõ về thần thông, chỉ vì khoa học chưa chứng minh rõ ràng về thần thông, nên người ta còn sống trong nhiều tưởng thức mơ hồ. Hiện giờ người ta chú ý thần thông nhiều nhất, nhất là để lại nhục thân (bộ xương khô). Người nào để lại bộ xương khô được xem là người đắc thiền định. Thiền định của đạo Phật không phải vậy, mà chỉ xả tâm dục và ác pháp, nhờ tâm thanh tịnh mới làm chủ sự sống chết, đó là thiền định của đạo Phật. Thần thông chỉ là một trò ảo thuật của tưởng thức để lừa đảo những người nhẹ dạ dễ tin.

Thần thông biến hóa (ĐườngVề.1) là thần thông nằm ở từ pháp Tứ Thiền đến Tam Minh: là có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước, đi trên nước, không nứt nẻ ra như trên đất liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Người dạy về thần thông biến hóa thì phải thể hiện sự biến hóa để dạy cho người ta tu tập biến hóa. Loại thần thông này ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này được xem tánh chất như là huyễn hóa.

Thần thông của đạo Phật (CầnBiết.1) là thần thông vô dục, vô ác pháp.

Thần thông giáo hóa (ĐườngVề.1)(ĐườngVề.2) là khi Tâm tôi có tham, tôi biết tâm tôi có tham; Tâm tôi có sân, tôi biết tâm tôi có sân; tôi ăn uống phi thời, tôi biết tôi ăn uống phi thời, tôi sẽ cố gắng khắc phục không ăn uống phi thời; người ta chửi mắng, mạ lị, mạt sát tôi, tôi biết nhưng tôi không giận họ; khi tôi bị hôn trầm, thùy miên, vô ký tôi biết tâm tôi có hôn trầm thùy miên và vô ký, tôi liền tác ý: “Cút” thì hôn trầm, thùy miên, vô ký biến mất; khi thân tôi đau nhức, tôi biết thân tôi đau nhức, tôi liền tác ý: "Thọ là vô thường, Cút” đau nhức tự biến đi mất, Tôi biết cơ thể tôi già yếu, chẳng làm ích lợi gì cho đời, tôi liền tác ý: “Hơi thở tịnh chỉ bỏ thân tứ đại” thì ngay đó hơi thở ngưng, tôi bỏ thân tứ đại. Thần thông giáo hóa là đức hạnh làm Thánh, làm Người; là người giáo giới người khác như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!”. Người nào dạy thần thông giáo hóa thì phải thể hiện đức hạnh làm Người, làm Thánh. Loại thần thông giáo hóa này là hy hữu hơn, và thù diệu hơn hai loại thần thông biến hóa và ký thuyết.

Thần thông ký thuyết (ĐườngVề.1) là thần thông bắt đầu từ pháp môn Nhị Thiền đến Tam Thiền, biết tư niệm của người khác. Thường thần thông này trong nhà thiền được gọi là trực giác; là: Có người nói lên nhờ tưởng. Có người nói lên nhờ nghe tiếng của loài Người, hay của phi nhân, hay của chư Thiên. Có người nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư. Có người thành tựu định không tầm không tứ, với tâm (của mình) rõ biết tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị Tôn giả này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Người dạy thần thông về trực giác thì phải thể hiện biết chuyện quá khứ vị lai và tư niệm của người khác. Loại thần thông này ai làm thần thông ấy người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này được xem tánh chất như là huyễn hóa.

Thấp sanh (ĐườngVề.9) là những vật sanh ra nơi ẩm ướt như cỏ cây và những loài vi sinh vật, những loài vật này sanh trước tiên (thuộc về ác nghiệp).

Thất Bồ Ðề Phần (ĐườngVề.9) hay còn gọi là Thất Giác Chi. Thất là bảy. Bồ Ðề là giải thoát. Phần là chi phần, mỗi phần, mỗi pháp môn trong một chùm bảy pháp có sự liên hệ mật thiết với nhau trong sự tu tập đi đến giải thoát hoàn toàn, mà mỗi phần tu tập đều có sự giải thoát của mỗi phần, nên gọi là Bồ đề phần hay là Giác chi. Thất Bồ Ðề Phần thuộc về Hán tạng Tiểu Thừa kinh A Hàm.

Thất Giác Chi (ĐườngVề.9)(TrợĐạo) là bảy chi phần giác ngộ giải thoát hay là bảy pháp dùng trí tuệ hiểu biết tu tập làm chủ sanh, già, bệnh, chết chấm dứt tái sanh luân hồi. Thất Giác Chi gồm có:1- Niệm Giác Chi. 2- Tinh Tấn Giác Chi. 3- Khinh An Giác Chi. 4- Hỷ Giác Chi. 5- Định Giác Chi. 6- Xả Giác Chi. 7- Trạch pháp Giác Chi.

Thất kiết sử (ĐườngVề.5) 7 sợi dây trói chặt và sai sử: tham, sân, si, mạn, nghi, giới cấm thủ, thân kiến thủ.

Thất niệm (Phậtdạy.3)(ĐườngVề.1)(CầnBiết.4) là mất niệm đang làm, thất niệm là mất tỉnh giác, mất tỉnh giác tức là mê, mê còn gọi là quên. Cho nên, tu tập mà để thất niệm là tu sai, tu suốt đời cũng chẳng có ích lợi gì. Thất niệm có hai trạng thái khác xen vào: 1- Quên mất niệm hành động của thân, xen vào những vọng tưởng, nghĩ ngợi chuyện thế gian (bị vọng niệm). 2- Quên mất niệm hành động của thân (vô ký) hành động theo thói quen, không nhớ, hay quên. Quên mất niệm là quên pháp như lý tác ý, quên pháp như lý tác ý là ý thức chìm thì tưởng thức hoạt động, sẽ rơi vào Thiền tưởng. Mất niệm tức là sống ở trong niệm ác. Người ở đời thường hay để mất niệm. Ví dụ 1: Có một người tức giận một điều gì mà chửi mắng người kia; người kia tức giận chửi mắng lại người nọ. Người tức giận chửi mắng lại người khác là người thất niệm. Còn người trú niệm thì không tức giận mà tâm hồn luôn thanh thản, an lạc và vô sự, xem như không có điều gì xảy ra. Ví dụ 2: Cơ thể bị bệnh đau nhức khổ sở vô cùng, như đau ruột thừa. Người bị bệnh thất niệm thì rên la khổ sở, còn người không thất niệm (trú niệm) thì tâm thanh thản, an lạc và vô sự xem như cơn đau chẳng có liên hệ gì đến mình. Theo nghĩa của Phật Giáo thì người trú niệm là luôn luôn ở trong tâm bất động còn người thất niệm thì luôn luôn ở trong tâm dao động. Người trú niệm thì tâm hồn luôn thanh thản, an lạc và vô sự. Người trú niệm là luôn luôn ở trong tâm bất động còn người thất niệm thì luôn luôn ở trong tâm dao động. Có nhiều cách trú niệm: 1.- Trú niệm trên Tứ Niệm Xứ để khắc phục tham ưu. 2.- Trú niệm trên 18 đề mục hơi thở. 3.- Trú niệm trên bước đi (kinh hành). 4.- Trú niệm trên thân hành (Thân Hành Niệm). 5.- Trú niệm quán vô lậu. 6.-  Trú niệm thư giản.

Thất tình, lục dục (ThiềnCănBản)(TâmThư.1) Thất tình gồm có: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Dục. Lục dục gồm có: Nhãn dục, Nhĩ dục, Tỷ dục, Thiệt dục, Thân dục, Ý dục.

Thấu triệt (CầnBiết.4) có nghĩa là đã hiểu như thật.

Thầy Giám viện (cô Giám viện) (TâmThư.2) phải có đầy đủ đức hạnh hiếu sinh để trực tiếp xem xét từng pháp hành tu tập, từng tâm tư, nguyện vọng, từng trạng thái tu tập, từng thời gian tu tập gặp khó khăn hoặc nhiếp tâm không được hoặc an trú không được của tu sinh, liền báo cáo và xin phép đến gặp Thầy. Thầy Giám viện hay cô Giám viện đưa tu sinh đến gặp Thầy khi tu sinh tu tập gặp khó khăn gặp.

Thấy tánh (Phật tánh) (Tạoduyên) trong Thiếu Thất Lục Môn, tổ Ðạt Ma có dạy lý nhập (Phật tánh) và hạnh nhập (Phật tánh). Người thượng căn khi nghe một câu liền ngộ (Phật tánh), và từ đó sống luôn với chỗ ngộ của mình, đây gọi là lý nhập (Phật tánh). Nhưng với người kém hơn phải nhờ hạnh nhập, tức là tu định một thời gian mới có thể thấy tánh.

Thập Thiện (10Lành)(TâmThư.2) là mười điều lành, thể hiện qua thân, khẩu, ý. 1.- Thân có ba nghiệp thiện: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. 2.- Khẩu có bốn nghiệp thiện: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lật lọng (nói lưỡi đôi chiều), không nói lời hung ác. 3.- Ý có ba nghiệp thiện: không tham lam, không sân hận, không si mê. Thập Thiện là pháp môn dung thông vạn hữu với tâm mình, là pháp môn buông xả những hành vi ác của thân, khẩu, ý. Nhờ pháp môn Thập Thiện này mà vạn vật thiên nhiên trong vũ trụ mới tùy thuận lẫn nhau, mới chung sống với nhau, mới hoàn mãn sự giải thoát nơi tâm hồn mình. Vạn hữu không còn là chướng ngại. Vạn hữu là tâm mình, tâm mình là vạn hữu; Thập Thiện là tâm mình, tâm mình là Thập Thiện. Thập Thiện là pháp môn buông xả những hành vi ác của thân, khẩu, ý. Nếu nghiệp ác dần dần buông xuống thì nghiệp thiện dần dần hiện lên. Nếu từ thân, khẩu, ý xuất phát những điều thiện thì giải thoát bệnh tật, tai nạn, phiền não, khổ đau cho thân và tâm hồn. Ngược lại, khi thân, khẩu, ý xuất phát những điều ác thì liền có sự khổ đau, sân hận, âu sầu, lo lắng và bệnh tật. Thân, khẩu, ý hành Thập Thiện thì từ khổ đau biến thành an vui; từ bệnh tật, đau ốm trở thành mạnh khỏe sống lâu, bởi vì nghiệp thiện luôn luôn che chở, giải thoát cho tâm khỏi cảnh đau khổ. Ví như có người chửi mắng mình mà mình hành pháp nhẫn nhục không chửi mắng lại, thì cảnh đang động (người chửi mắng) biến thành cảnh tịnh, cảnh khổ biến thành cảnh an vui. Như vậy hành động Thiện (nghiệp THIỆN) đem lại cho chúng sanh thoát khỏi bệnh tật, khổ đau. Thập Thiện là đường đi đạo đức nhân bản - nhân quả của con người, nên nó là bộ sách đạo đức suốt cả một đời người, vì thế phần nội dung Thập Thiện rất phong phú không thể tính số được, chỉ tùy trình độ biên soạn, cũng tùy vào trình độ của tu sinh tiếp thu, nên sự soạn thảo hết sức cẩn thận, kỹ lưỡng.

Thật tri (ĐườngVề.3) là sự hiểu biết qua ý thức. Khi chúng ta phân biệt mọi vật trước mắt mà hiểu được mọi vật đó một cách rõ ràng và cụ thể thì đó là thật tri. Thật tri chính là ý thức của chúng ta đang sử dụng hằng ngày trong cuộc sống. Ðó là sự hiểu biết phân biệt phải, trái, tốt, xấu, trắng, đen, dơ, sạch, thiện, ác, v.v…

Thế Gian Giải (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) nghĩa là giải thích rõ các pháp trong thế gian, không còn pháp nào mà không giải thích được. Bậc Thế gian giải có nghĩa là bậc thông suốt tất cả các pháp thế gian, Bậc có thể hiểu rõ các lý và sự của loài hữu tình và vô tình. Thế Gian Giải còn gọi là “Thánh hạnh giải thông suốt các pháp thế gian”.

Thế giới (ĐườngVề.2) của chư Phật (Người sống vô lậu là Phật) thì vô lậu, của chư Thiên (Người sống Thập Thiện là Trời) thì Thập Thiện, của loài Người (Người sống giữ gìn ngũ giới là Người) là dục giới và ngũ giới, của A Tu La (Người sống thường hay giận dữ là A Tu La) là sân và ác pháp, của loài chúng sanh (Người sống ác nhiều thiện ít là chúng sanh mang lốt người và tất cả loài chúng sanh) là ác pháp nhiều, thiện pháp ít, của Ðịa Ngục (Người sống toàn ác là người ở cảnh giới Ðịa Ngục) là toàn ác pháp.

Thế giới hữu hình (PhậtDạy.2)(Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là thế giới duyên hợp, là thế giới có hình sắc, tức là thế giới mà chúng ta đang sống, đang có mặt. Hai thế giới vô hình và hữu hình này đều do tưởng tri dựng lên, nó đều không như thật có, không có một vật gì là thật, là thường hằng bất di bất dịch, thường mọi vật đều vô thường biến hoại, nay còn mai mất từng phút giây, chỉ do tưởng điên đảo mới thấy cái này là ta, là của ta, là bản ngã của ta.

Thế giới không hiện hữu (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là thế giới không có hình sắc, thế giới không hình sắc tức là thế giới vô hình. Hai thế giới vô hình và hữu hình này đều do tưởng tri dựng lên, nó đều không như thật có, không có một vật gì là thật, là thường hằng bất di bất dịch, thường mọi vật đều vô thường biến hoại, nay còn mai mất từng phút giây, chỉ do tưởng điên đảo mới thấy cái này là ta, là của ta, là bản ngã của ta.

Thế giới quan của Phật Giáo (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) thế giới quan của Phật Giáo là 12 nhân duyên, là năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng như trong kinh Tăng Chi Bộ tập 4 trang 184 dạy: “Các sắc do con mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các hương do mũi nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các vị do lưỡi nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn”. Khi nhãn căn tiếp xúc nhãn trần sinh ra cảm thọ, từ cảm thọ sinh ra khả ái, khả lạc... Một thế giới quan hiện bày đầy đủ tính đau khổ. Thế giới quan của Phật Giáo rất thực tế không có mơ hồ trừu tượng. Đó là một thế giới khổ đau. Muốn cho thế giới này hết khổ đau thì tu tập từ pháp ly dục ly ác pháp đến pháp Tam Minh thì cả thế giới này mới chấm dứt khổ đau. Khi nhãn căn tiếp xúc nhãn trần sinh ra cảm thọ, từ cảm thọ sinh ra khả ái, khả lạc. Một thế giới quan hiện bày đầy đủ tính đau khổ. Muốn cho thế giới này không hiện bày tính đau khổ thì người tu sĩ phải ngay nơi căn trần xúc chạm sinh ra thọ thì thọ lạc không bị lôi cuốn, thọ khổ đừng sợ hãi, dao động tâm. Chỉ nơi duyên thọ mà tâm ta bất động thì thế giới quan sẽ bị diệt. Thế giới quan bị diệt thì con đường đau khổ sẽ chấm dứt. Thế giới quan này của Phật giáo rất thực tế không có mơ hồ trừu tượng. Nếu muốn cho thế giới này hết khổ đau thì tu tập từ pháp ly dục ly ác pháp đến pháp Tam Minh. “Năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong luật của bậc Thánh”.Luật của bậc Thánh là 12 nhân duyên, 12 nhân duyên là thế giới quan của Phật giáo. Nói đến thế giới quan của Phật giáo là nói đến 12 nhân duyên, đến bậc Thánh Duyên Giác là người xông thẳng vào cửa THỌgiữ tâm bất động: THỌ LẠC không tham; THỌ KHỔ không sợ. Từ chỗ giữ tâm bất động này phá vỡ các duyên khác như: ái, hữu, thủ, sanh, ưu, bi, sầu, khổ, bệnh, tử, chấm dứt, do đó, thế giới quan đau khổ của Phật giáo bị sụp đổ, Người ấy chứng Thánh quả Duyên Giác A La Hán đầy đủ Tam Minh, Lục Thông. Cho nên đức Phật gọi: “Năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong luật của bậc Thánh”.

Thế giới sắc tướng (CầnBiết.2) là thế giới mà loài người đang sống, có sự sống, có vạn vật hiện hữu, do duyên hợp lập thành, không phải do “tưởng uẩn làm ra”. Vì thế, không có một vật gì thường hằng,luôn tan hoại theo thời gian năm tháng. Thế màchúng ta điên đảo tâm, điên đảo tưởng, điên đảo tình, điên đảo kiến, chấp thủ mọi vật là có thật, là ta, là của ta, v.v... Thế giới hiện hữu là không có thật, vì thế mọi vật vô thường. Cho nên đức Phật gọi nó thế giớitưởng, là thế giới của tưởng tri.

Thế giới siêu hình (ĐườngVề.9) là thế giới tưởng, thế giới tưởng là thế giới bóng dáng của thế giới hiện hữu mà chúng ta đang sống. Vì thế khi chúng ta còn sống là thế giới ấy còn, chúng ta mất là thế giới ấy mất.

Thế giới vô hình (PhậtDạy.2) là bóng dáng của thế giới hữu hình, do tưởng uẩn tạo ra mà chúng ta không hề hay biết, nên sống trong tưởng tri thường cho nó là một thế giới vĩnh hằng. Vì thế, có nhiều người nghĩ tưởng rằng theo các tôn giáo, phục vụ tôn giáo đến khi chết sẽ được về cõi Trời, cõi Phật hoặc làm một việc gì hy sinh cho tôn giáo thì sẽ được phong Thánh, sẽ được về với Phật, với Trời, v.v…

Thế thế thường hành Bồ Tát Ðạo (ĐườngVề.2) câu này của kinh điển phát triển (Ðại Thừa) có nghĩa "đời đời hành theo hạnh Bồ Tát", "đời đời nguyện làm Bồ Tát độ hết nạn khổ của chúng sanh mới thành Phật". Bồ Tát theo kiểu này khiến cho chúng sanh làm ác thêm và thế gian này càng thêm rối loạn. Bồ Tát trong kinh phát triển là Bồ Tát tham danh, tu chưa tới đâu chỉ học trong mấy bộ kinh rồi tưởng giải ra làm lệch ý Phật đẻ ra kinh sách phát triển dạy người tu hành mê tín trừu tượng ảo giác, khiến người tu hành theo Phật giáo mà thành tu pháp môn ngoại đạo. Bồ Tát trong kinh Nguyên Thủy chỉ là một người mới tu hành, đang tu hành chưa chứng đạo, cho nên chẳng dám dạy ai tu hành cả. Ðức Phật răn nhắc điều này: “Tu chưa chứng đạo mà dạy người là giết người”. Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Ðịa Tạng là hai vị thần của Bà La Môn, nó là một sản phẩm tưởng tượng hý luận của ngoại đạo tạo sự mê tín phi đạo đức trong dân gian mà hầu hết mọi người đều mê lầm.

Thế Tôn (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3)(TrợĐạo) nghĩa là bậc cao hơn hết trong cõi Trời, Người, được tất cả Trời, Người đều tôn kính quí trọng. Thế Tôn là bậc đạo sư, còn gọi là “Đức Thánh tôn kính”.

Thể nhập (PhậtDạy.2) nghĩa là nhập vào trạng thái bất di bất dịch. “Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập” là tất cả các pháp lấy chỗ không chết vào nơi bất di bất dịch hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn là các pháp lấy chỗ bất tử làm chỗ vào vĩnh cửu. Chỗ bất tử là tâm bất động, cho nên trong Phật giáo có những danh từ để chỉ cho chúng ta thấu rõ nghĩa này: Bất tử tâm hay bất động tâm đều có một nghĩa như nhau. Những trạng thái tâm này được gọi tên theo thiền định là Bất Ðộng Tâm Ðịnh hay Bất Tử Tâm Ðịnh.

Thỉnh nguyện phát lồ sám hối (OaiNghi) Thỉnh nguyện phát lồ sám hối có nghĩa là ngày ấy, các tu sĩ tập trung trong Tổ đường, ngồi xếp bằng phân làm hai hàng thẳng, chừa một lối đi rộng khoảng 2m giữa bàn thờ Tổ, những tu sĩ có hạ lạp cao thì ngồi trước, còn những tu sĩ có hạ lạp thấp thì ngồi sau, theo thứ tự người lớn tuổi ngồi trước, người nhỏ tuổi ngồi sau. Bắt đầu thỉnh nguyện, người Chủ lễ đọc một bài diễn văn khai mạc (Xin quý vị đọc bài diễn văn khai mạc buổi lễ thỉnh nguyện trong tập sách “CÁC PHÁP YẾT MA”) Khi đọc xong thì thầy chủ lễ xin phát lồ sám hối trước.

Thinh tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là những âm thanh do tưởng uẩn trong ta biến hóa lưu xuất hiện hành phát ra âm thanh như: Tiếng nói chư Thiên, tiếng kêu, tiếng hú, tiếng la, tiếng thét, tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khóc, tiếng rên, tiếng tụng kinh, niệm chú, tiếng nói đối đáp trong ta, tiếng gọi tên, tiếng tác ý, v.v… mà chỉ có mình ta nghe, hoặc một vài người nghe được do có tu tập tưởng định, hoặc do hoang tưởng, hoặc do rối loạn thần kinh.

Thu nhiếp tâm (12Duyên) là một kỳ công tu tập chớ không thể chỉ hiểu biết trong kinh sách suông là thu nhiếp được tâm. Đây là Đức Phật dạy tu tập Tứ Niệm Xứ. Đầu tiên chúng ta phải tu tập Quán Thân Trong Thân, khi quán thân trong thân cho được thuần thục rồi mới Quán Thân Ngoại Thân. Sau khi tu tập quán thân ngoại thân được thuần thục rồi mới tu tập kế tiếp Quán Trong và Ngoại Thân. Khi quán thân xong thì tiếp tục quán thọ, quán tâm và quán pháp theo từng bước như quán thân vậy. Với mục đích là để từ bỏ và diệt trừ sạch Lòng Tham Dục. Khi diệt trừ sạch lòng tham dục trên Tứ Niệm Xứ (thân thọ tâm pháp) là tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự. Trạng thái tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự là trạng thái tâm Chánh Niệm Tĩnh Giác. Khi một người luôn luôn sống với tâm Chánh Niệm Tỉnh Giác từ ngày này qua ngày khác là người đó đã chứng đạo. Trong thời Đức Phật còn tại thế, Đức Phật thuyết giảng xong một bài pháp là có người xả sạch Ngũ Triền Cái và Thất Kiết Sử cho nên nghe xong là Chứng Đạo. Nếu một người biết tu tập thì cứ ngay trên Tứ Niệm Xứ mà tu tập làm cho Thân, Thọ, Tâm, Pháp thanh tịnh không bị ác pháp hay chướng ngại pháp làm dao động tâm là chứng đạo. Pháp môn Tứ Niệm Xứ là một pháp môn tu tập chứng đạo, nó đứng hàng thứ bảy trong Bát Thánh Đạo, vì thế quý vị đừng nghe nói Tứ Niệm Xứ liền ôm pháp tu hành. Các sư Nam Tông mở các lớp dạy tu tập Tứ Niệm Xứ mà đủ các hạng người tu sĩ và cư sĩ đều về tu tập nhưng có người nào tu tập làm chủ Sanh, Già, Bệnh, Chết được đâu. Cuối cùng người tu theo Phật giáo thì đông vô kể, nhưng làm chủ thì chẳng có ai cả vì sự tu tập chân chánh thì khó tìm ra một người. Nói pháp Tứ Niệm Xứ, chớ trình độ tu tập Tứ Niệm Xứ thì chưa có ai tu tập được vì đời sống giới luật chưa có ai sống trọn vẹn. Giới hạnh chưa xong mà hô hào tu tập Tứ Niệm Xứ là để khoe khoang “háo danh” chớ tu tập ra gì. Tứ Niệm Xứ đâu phải là pháp môn để cho người đang sống với chồng con hay vợ con hay còn tiếp xúc cới gia đình mà tu tập được sao? Muốn vào tu tập Tứ Niệm Xứ thì lấy bảy hạnh làm tiêu chuẩn mà xét người tu.

Thuận (ThiềnCănBản) là hòa thuận, không chống trái nhau.

Thuở xưa và nay (PhậtDạy.4) phải hiểu xưa kia trong lúc đang tu tập đức Phật cũng nhờ an trú trong không này, đến nay thành tựu được chánh pháp, tức là đức Phật đã chứng đạo, nhưng vẫn an trú thường xuyên rất nhiều trong không ấy. An trú rất nhiều tức là luôn luôn đức Phật sống với tâm bất động khi đã tu chứng đạo.

Thùy (10Lành) là ngủ nghỉ.

Thùy miên (PhậtDạy.1)(ĐườngVề.1)(ĐườngVề.9)(4Tâm) Thùy có nghĩa là ngủ, buồn ngủ; miên có nghĩa là triền miên, miên man, liên tục. Thùy miên là ngủ, buồn ngủ, ngủ miên man liên tục không hay biết gì cả, đó là một trạng thái si mê, lười biếng của những người vô minh. Cúi đầu xuống, quẹo cổ qua một bên và ngủ thiếp đi.

Thuỳ miên, giải đãi (PhậtDạy.1) Thùy miên là buồn ngủ; giải đãi là lười biếng. Khi biết cách tu tập Tứ Niệm Xứ thì phải thiện xảo phá cho sạch buồn ngủ và lười biếng, vì trạng thái buồn ngủ và lười biếng thuộc về tâm si nên rất khó dẹp, phải kiên trì, bền chí đi kinh hành Chánh Niệm tỉnh giác hoặc tu tập pháp môn Thân Hành Niệm thì mới có hy vọng dẹp bỏ được.

Thủ (Phậtdạy.3)(ĐườngVề.1)(CầnBiết.2)(CầnBiết.3) giữ gìn, cố chấp, ngoan cố gọi là bảo thủ, không chịu cởi mở, xả bỏ, buông xuống, v.v… (ĐườngVề.1) Thủ (trong 12 duyên) là không để cho mất mát, giữ lại, nhờ có giữ gìn bảo vệ của cải tài sản, thân bằng quyến thuộc nên mới có đời sống (sanh).

Thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) Người nào tu tập những pháp môn phòng hộ sáu căn, pháp môn như lý tác ý thì thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình. Khi tu tập, phải thiện xảo khéo léo áp dụng đúng thời, đúng lúc thì rất hữu hiệu, đạt kết quả rất cao. Người nào tu tập thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình là con đường tu tập sắp đến đích, còn ngược lại không thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình, thích nói chuyện, thích tập họp thì con đường tu tập sẽ còn xa lắm, biệt mù.

Thiên Ðàng (CầnBiết.2) Trong kinh sách Nguyên Thủy của đạo Phật có nói đến Thiên Ðàng, đó là cảnh Thiên Ðàng tại thế gian, cũng tại tâm. Làm thiện hưởng phước báo an vui, hạnh phúc, tai qua, nạn khỏi, sống cuộc đời đầy đủ, không thiếu hụt, muốn chi có nấy. Nhưng ngườiđời không hiểu, cho đó là có Thiên Ðàng thật sự.

Thiên giới và đọa xứ (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) Ở đây Thiên giớikhông phải là cõi Trời mà là Thập thiện. Đọa xứở đây không phải là địa ngục mà là Thập ác. Thấy thiên giới, đọa xứ là thấy Thập thiện, thập ác. Thấy Thập thiện và Thập ác là thấy nhân quả. Thấy được nhân quả thì mới hiểu lời đức Phật dạy.

Thiên Nhãn Minh (ĐườngVề.3)(ĐườngRiêng)(TrợĐạo) trí tuệ quan sát không gian vũ trụ không chỗ nào là không thấy, không có một vật gì trong không gian vũ trụ mà nó bỏ sót, dù vật ấy rất nhỏ như hạt vi trần, có nghĩa là đôi mắt sáng suốt nhìn thấy thấu suốt không gian và vũ trụ, dù cách núi, cách sông vẫn thấy biết rất rõ như thấy chỉ tay trong lòng bàn tay. Thiên Nhãn Minh có khả năng điều khiển thân ngũ uẩn bắt gặp các tần số hình ảnh và âm thanh một cách dễ dàng. Những hình ảnh, âm thanh và những hành động đã qua của con người còn giữ lại trong không gian này bất kỳ nơi đâu, đó là nghiệp lực nhân quả tái sanh luân hồi của con người. Muốn sử dụng Thiên Nhãn Minh thì dùng Dục Như Ý Túc thấy biết như ý mình muốn. Thiên Nhãn Minh gồm có: giới nhãn, định nhãn, tuệ nhãn, nhân quả nhãn, vô lậu nhãn, nhục nhãn, thiên nhãn, Phật nhãn tức là A La Hán nhãn, túc mạng minh nhãn, Thánh đức nhãn, đại thần lực nhãn, đại uy lực nhãn, đại minh lực nhãn, v.v...

Thiên Nhân Sư (PhậtDạy.1)(CầnBiết.2)(CầnBiết.3) là bậc Thầy của Trời, Người. Dạy cho Trời, Người những gì nên làm và những gì không nên làm. Thiên Nhân Sư còn gọi là “Đức Thánh Thầy Trời, Người”.

Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân (TruyềnThống.2) nghĩa là lỗ tai bất động trước những âm thanh khả lạc, khả hỷ, khả khổ, v.v... của người phi thường.

Thiện (ĐườngVề.2) là cõi chư Thiên, cõi Trời là cõi thiện.

Thiền bản (Tạoduyên) Cái gậy to và dài dùng trong những buổi ngồi thiền chung, người có cây gậy này đi tới đi lui tuần thiền để xem xét và kiểm tra cách thức chúng ngồi thiền trong thiền đường và giúp những người bị hôn trầm trong khi ngồi thiền được tỉnh thức.

Thiền của Phật (ĐườngVề.4)(ĐườngVề.5)(TâmThư.1) là phải lìa tâm tham, diệt ác pháp, tức là ly dục ly ác pháp hay ngăn ác diệt ác pháp, chứ không phải ngồi bắt chân lên là nhiếp tâm không vọng tưởng, không phải còn tham ăn, tham dục mà gọi là thiền định. Như vậy Thiền của Phật giáo là loại thiền xả tâm “ly dục ly ác pháp” lấy giới luật đức hạnh chuyển hóa nhân quả, làm chủ nhân quả (Các pháp ác không nên làm, nên làm các pháp thiện, hoặc ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp). Thiền của Phật giáo không có điều thân, điều tức (hơi thở), điều tâm. Trong kinh Nguyên Thủy dạy cắn chặt răng, uốn lưỡi cong để chạm lên hàm ếch là biện pháp để khi có những ác pháp tấn công vào thân tâm quá mạnh khiến cho đau đớn khôn cùng thì phải dùng tư thế này để giữ gìn tâm bất động, để đẩy lui các ác pháp đó ra khỏi thân tâm, không phải đó là phương pháp điều thân như trong pháp thiền của Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ dạy. Ðạo Phật không có dùng hơi thở tập trung tâm để loại bỏ mọi tạp niệm mà dùng hơi thở để loại trừ tham, sân, si, và bệnh khổ, hoặc khi thân bị đau bệnh, hoặc phá tâm si tức là khi bị hôn trầm, thùy miên và vô ký. Hơi thở chỉ là lỗ châu mai cho hành giả núp vào đó để đẩy lui các ác pháp. Thiền của Phật giáo khi hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ thì với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản thì dẫn tâm nhập thiền định không có khó khăn, không có phí sức, không có mệt nhọc. Khi tu tập Tứ Niệm Xứ làm cho sung mãn thân, thọ, tâm, và pháp thì Tứ Thần Túc xuất hiện như những dụng cụ để nhập các loại thiền định. Người tu thiền mà chưa xuất hiện những dụng cụ Thần Túc này thì không bao giờ nhập được chánh định, nếu có nhập được cũng chỉ nhập tà định tức là định tưởng. Thiền Phật giáo chỉ có xả tâm ly dục ly ác pháp để cho tâm không còn tham, sân, si. Tâm không còn tham, sân, si, là mục đích của đạo Phật đã đạt. Thiền Phật giáo chỉ có xả tâm ly dục ly ác pháp để cho tâm không còn tham, sân, si. Một khi tâm không còn tham, sân, si, thì tâm rất định tĩnh, nhu nhuyến và dễ sử dụng. Khi tâm định tĩnh, nhu nhuyến và dễ sử dụng thì nhập thiền định không có khó khăn, không có mệt nhọc. Thiền của Phật giáo không giống một thứ thiền nào của các tôn giáo khác, và cũng không có tôn giáo nào có thể dung hoà được thiền của Phật giáo với các thứ thiền của họ được. Thiền của Phật giáo là một chương trình giáo dục đào tạo con người sống có đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai. Ðối với đạo Phật, thiền là đạo đức làm người, làm Thánh, chứ không phải luyện Tinh, Khí, Thần, thiền không phải là khoa học, y học, vật lý học.

Thiền định của con ngựa chưa thuần thục (PhậtDạy.1) Con ngựa chưa thuần thục có nghĩa thân tâm còn tham, sân, si, mạn, nghi, còn chưa ly dục ly ác pháp. Khi tâm còn tham, sân, si, mạn, nghi, chưa ly dục ly ác pháp thì đừng có tu thiền định, vì có tu thiền định cũng chỉ mất công phí sức chẳng bao giờ nhập được định, bởi vì nền tảng tu thiền định của Ðạo Phật là Giới luật. Có nền tảng giới luật thì tu thiền định mới bảo đảm. Tâm phải thanh tịnh ly dục ly ác pháp thì mới nên tu tập thiền định.

Thiền định của Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ (ĐườngVề.5) do ức chế tâm diệt vọng tưởng để đạt trạng thái yên lặng đến tĩnh lặng, tìm cái tĩnh lặng với trạng thái thường, lạc, ngã, tịnh. Lấy cái biết không niệm thiện niệm ác làm “Phật Tánh”để hằng sống với cái chân thật đó của mình. Tìm về thế giới vĩnh hằng của “Phật Tánh”; không có đạo lực, không làm chủ sự sống chết, chỉ có đạo thông tưởng pháp, nói thiền nói đạo như gió thổi mưa sa. Vọng tưởng là một đề tài của Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ dùng làm đối tượng để tu tập thiền định.

Thiền định của Đạo Phật (PhậtDạy.1)(PhậtDạy.2)(Phậtdạy.3)(ĐườngVề.3)(ĐườngVề.4)(ĐườngVề.5)(ThiềnCănBản)(CầnBiết.2)(CầnBiết.4)(ThờiKhóaTu)(ChùaAm) có tên là Tứ Thánh Định, chính là tâm toàn thiện. Tâm toàn thiện là tâm định chứ không phải thân định, Đức Phật xác định: “Tâm định trên thân, Thân định trên tâm” là hai loại thiền định rõ ràng: 1/ Tâm định (Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý), kinh Pháp Cú. 2/ Thân định (Không thở ra thở vào, tâm trú vào thiền định), kinh Tương Ưng. Thiền định của Ðạo Phật nhắm vào sự làm chủ sanh, già, bệnh, chết, chuyển hóa nhân quả, chấm dứt luân hồi, chứ không phải là những loại thiền định nhắm vào thần thông, phép thuật, biến hóa, tàng hình. Bởi vậy muốn có cội gốc thiền định này thì Tứ Thánh Định cần phải tu tập. Do đó Đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử của mình: “Định căn cần tu tập Tứ Thánh Định”. Thiền định của đạo Phật là pháp môn dành cho những người tâm bất động để nhập, chớ không phải để cho mọi người tu tập. Phật giáo dạy chúng ta ly dục ly ác pháp để đạt tâm bất động, chớ không dạy chúng ta tu tập thiền định theo kiểu ức chế ý thức để ý thức không còn khởi niệm. Thiền định của đạo Phật giáo là Thiền định để nhập, để làm chủ thân tâm, chớ không phải để tu tập như người ta nghĩ tưởng và kiến giải, khiến cho người tu tập Thiền định càng xa lìa Phật giáo. Thiền định của Ðạo Phật là Tứ Thánh định, là thiền định từ giới luật sinh ra. Những lời dạy của đức Phật trong kinh sách thường nhắc nhở chúng ta: giữ “Năm giới” và nhắc nhở “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” hoặc khuyên răn “Ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp” Những lời dạy trên là những lời dạy đạo đức nhân bản làm người không làm khổ mình khổ người là thiền định của Phật. Thiền định của Phật giáo chỉ khi nào tâm ly dục ly ác pháp hay nói cách khác là tâm lìa tham, sân, si mới có thiền định. Thiền định của Phật giáo phải luôn luôn tác ý ly dục, ly ác pháp, xả tâm diệt ngã. Tu tập rất bình thường không ức chế, với một tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Mục đích của Ðạo Phật là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, dùng pháp hướng tâm như lý tác ý để ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, tâm vô lậu thanh tịnh không còn đắm nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của thế gian, tâm được thanh tịnh đó gọi là định. Tìm về cuộc sống, có một trạng thái an lạc, thanh thản, làm chủ bốn cái khổ của kiếp người sanh, già, bệnh, chết. Tu tập vừa có đạo thông vừa có đạo lực điều khiển sự sống chết luân hồi theo ý muốn, bằng ý thức chủ động điều khiển sự sống chết của con người, không mơ hồ, trừu tượng. Đối tượng tu tập là tâm tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử. Tất cả những sự tưởng ra trạng thái thiền định như thế này, như thế khác đều là do tưởng. Có những trạng thái thiền xảy ra trong khi tu tập ức chế tâm không vọng tưởng là tà thiền, tà định của ngoại đạo. Như vậy khi tu thiền có trạng thái này trạng thái nọ, thì phải mau mau xả tất cả những trạng thái đó, chứ đừng có cho nó là định tướng. Thiền định của Ðạo Phật không giống bất cứ một loại thiền định nào của Ðại Thừa và Thiền Tông. Nếu tu tập thiền định mà loại thiền định đó không lấy giới luật làm tiêu chuẩn, sống không đúng Phạm hạnh, thường phạm giới, phá giới thì đó là thiền định không phải của Phật giáo, bạn đừng có tin. Kinh nói: “Bốn Tinh Cần Là Ðịnh Tư Cụ”, vậy pháp môn tu tập thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy chỉ có Ðịnh Tư Cụ “Tứ Chánh Cần”, ngoài Tứ Chánh Cần thì không còn pháp môn nào khác nữa để tu tập thiền định đúng chánh pháp. Ðức Phật xác định những pháp môn đã dạy ở trên đây là những pháp môn tu tập thiền định của Ðạo Phật. Nếu có pháp môn nào khác nữa để tu tập thiền định thì chúng ta phải biết đó không phải là pháp môn của Phật giáo, mà là pháp môn của ngoại đạo. Thiền định của Phật giáo là một thứ thiền định giải thoát vô lậu (Ðịnh Vô Lậu) chứ không phải thứ thiền định ngồi lim dim như con cóc, như gộc cây, ức chế thân tâm như ai bẻ giò, bẻ cẳng, đầu căng thẳng như treo đá. Tâm còn động, chưa ly dục ly ác pháp mà muốn tu tập Thiền định thì Thiền định đó là Thiền định tưởng của các tà sư ngoại đạo.

Thiền định của Phật Giáo Đại Thừa và Thiền Tông (CầnBiết.4) thì thiền định là ở chỗ tâm không có vọng tưởng, như kinh Kim Cang dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” Thiền Tông dạy: “Chẳng niệm thiện niệm ác, bản lai diện mục hiện tiền”. Đó là thiền định ức chế tâm, rơi vào trạng thái tưởng không niệm, chứ không phải thiền định xả tâm, theo như Phật Giáo Nguyên Thủy.

Thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy (PhậtDạy.1)(Phậtdạy.3)(ĐườngVề.1)(ĐườngVề.3)(CầnBiết.4)(Tạoduyên)(TâmThư.1) là ly dục ly ác pháp, nói rõ nghĩa hơn là ở trong niệm thiện vô lậu. Niệm thiện vô lậu nghĩa là tâm đã muội lược lìa xa, từ bỏ tham, sân, si, mạn, nghi v.v… Thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy, mà đức Phật đã xác định trong Bát Chánh Ðạo là Chánh định gồm Bốn thiền hữu sắc, còn gọi là Tứ Thánh Ðịnh, ngoài Tứ Thánh Ðịnh này, thì thiền định nào cũng không được gọi là Chánh định cả. Người nào sống biết nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, ăn, ngủ, độc cư, trầm lặng là người có thiền định, tức là người biết ngăn ác diệt ác pháp. Thiền định của Phật Nguyên Thủy là loại thiền định xả tâm, vì thế phương pháp tu thiền định này là Tứ Chánh Cần, ngăn ác diệt ác pháp trên bốn chỗ trong thân ngũ uẩn: thân, thọ, tâm, pháp, khiến cho bốn chỗ này được thanh thản, an lạc và vô sự. Phật lấy chỗ tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ, làm mục đích giải thoát cho con đường tu tập của mình, cho nên người tu tập ngăn ác diệt ác pháp là người tu tập thiền định của đạo Phật. Người nào sống biết nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, ăn, ngủ, độc cư, trầm lặng, tức là người biết ngăn ác diệt ác pháp, họ là người có thiền định. Còn người nào không ngăn ác, diệt ác pháp là người không tu tập thiền định Phật giáo được. Thiền địnhcủa Phật giáo Nguyên Thủy chỉ dành riêng cho những người biết buông xả, buông xả sạch, tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Nhập được cũng phải do thiện pháp, ngoài thiện pháp đi tìm thiền định thì không bao giờ có. Có dứt khoát được tình cảm, có xa lìa được tài sản thì mới nhập được chánh định, bằng không chỉ là tu tập có hình thức, chẳng bao giờ nếm được mùi vị của giải thoát. Thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy không phải thứ thiền định lìa cuộc sống, tu hành chỉ lo “Ngồi thiền” thì không bao giờ có sự giải thoát. Đó chỉ là tà thiền của ngoại đạo mà thôi. Thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy là sự bất động của thân tâm con người. Mỗi phần trong thân tâm bất động là một loại thiền định. Sự bất động trong thiền hữu sắc gồm có: 1- Bất động ý thức uẩn nhập Sơ Thiền. 2- Bất động sắc uẩn nhập Nhị Thiền. 3- Bất động tưởng uẩn nhập Tam Thiền. 4- Bất động thọ uẩn và hành uẩn nhập Tứ Thiền. Nếu không có Tứ Thần Túc thì không bao giờ bất động được thân ngũ uẩn. Không bất động được thân ngũ uẩn thì không bao giờ nhập được Bốn Thánh Ðịnh. Nhờ có Tứ Thần Túc mới nhập thiền, nhập định. Ví dụ: muốn nhập Nhị Thiền thì ra lệnh: "Thân tâm phải diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền"lúc bấy giờ sáu căn ngưng hoạt động, liền đó thân tâm nhập vào Nhị Thiền. Nhập thiền định mà nhập theo kiểu ức chế tâm là sai, là không đúng theo thiền định Phật giáo. Thiền của Phật giáo không có điều thân, điều tức, điều tâm, mà chỉ có ngăn ác, diệt ác pháp, sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp (Bốn Tinh Cần là định tư cụ).Thiền không thể là khoa học, y học, vật lý học. Thiền định là thiền định; khoa học, y học, vật lý học là khoa học, y học, vật lý học. Cái lầm lạc của những người trí thức là hay tổng hợp lấy khoa học, y học, vật lý học, để minh chứng cho thiền định và lấy thiền định lồng trong y học, vật lý học, khoa học để bảo rằng thiền định là một sự thật không hư tưởng. Ðịnh không phải chỉ chú tâm biết hít vô thở ra làm cho tâm không có vọng tưởng, tức không dùng hơi thở để tập trung tâm, để chế ngự tâm, để ức chế tâm, để nhiếp phục tâm làm cho tâm không khởi niệm. Hiểu như vậy là hiểu Ðịnh sai lạc, thành ra tu sai lầm. Đối với Phật giáo, Thiền định là để nhập Tứ Thánh Định và thực hiện TAM MINH. Cơ sở cho sự tu tập thiền định là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Nương vào chỗ tâm thanh tịnh (tâm bất động) mới bắt đầu tu tập Tứ Như Ý Túc, là tu tập rèn luyện thần lực, tức là tu tập để có bảy năng lực giác chi. Có bảy năng lực giác chi mới nhập được các định. Thiền định được phân làm hai loại: 1- Loại nhập định còn biết thân gọi là Tâm Ðịnh. Tâm định gồm có những loại định: 1- Ðịnh Chánh Niệm Tỉnh Giác, 2- Ðịnh Vô Lậu, 3- Ðịnh Niệm Hơi Thở, 4- Ðịnh Sáng Suốt, 5- Ðịnh Tư Cụ (Tứ Chánh Cần), 6- Ðịnh Tứ Niệm Xứ, 7- Ðịnh Thân Hành Niệm, 8- Ðịnh Từ Tâm, 9- Ðịnh Bi Tâm, 10- Ðịnh Hỷ Tâm, 11- Ðịnh Xả Tâm, 12- Ðịnh Tứ Bất Hoại Tịnh, 13- Ðịnh Bất Ðộng Tâm, 14- Ðịnh Vô tướng Tâm, 15- Ðịnh Diệt Tầm Giữ Tứ, 16- Ðịnh Sơ Thiền. 2- Loại nhập định không biết thân gọi là Thân Ðịnh. Thân định gồm có những định: 1- Ðịnh Nhị Thiền, 2- Ðịnh Tam Thiền, 3- Ðịnh Tứ Thiền, (Thiền định của đạo Phật, từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền là những pháp môn giải thoát, tự tại sanh tử, làm chủ sự sống chết của thân tâm). 4- Ðịnh Không Vô Biện Xứ Tưởng, 5- Ðịnh Thức Vô Biên Xứ Tưởng, 6- Ðịnh Vô Sở Hữu Xứ Tưởng, 7- Ðịnh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, 8- Ðịnh Diệt Thọ Tưởng (các thiền định vô sắc, định tưởng của ngoại đạo, không tự tại sanh tử).

Thiền định tưởng (Tạoduyên) Các thiền sư nhập vào Thiền định tưởng (các thiền định của ngoại đạo) đều còn tưởng dục, còn tưởng dục tức là còn mộng mị chiêm bao. Tất cả thiền sư Ðông Ðộ đều còn chiêm bao mộng mị.

Thiền Ðông Ðộ (ĐườngVề.6)(CầnBiết.2)(Tạoduyên) Phật giáo Ðại Thừa là Phật giáo Bắc truyền thuộc Bà La Môn Giáo và Ấn Ðộ Giáo kết hợp và phát triển theo tưởng giải tạo ra, không phải là Phật giáo mà là Lão giáo Trung Hoa (Tiên đạo). Tư tưởng Lão Trang Trung Hoa phát triển, có những điểm tươngđồng với tư tưởng kinh sách phát triển Ðại thừa giáo Ấn Ðộ. Sau này Phật giáo Ðại thừa đồng hoá tư tưởng Lão giáo, lấy tên gọi là “Phật giáo Tối Thượng thừa”, hay còn gọi là “Thiền tông”. Chủ trương của Thiền tông kết hợp Lão giáo và Ðại thừa, nên thường gọi là “Thiền Giáo đồng hành”. Cho nên, những tư tưởng trong kinh sách Ðại Thừa là tưtưởng của hai giáo phái này, mang tính chất trừu tượng, mơ hồ, ảo giác và đầy dẫy sự mê tín. Pháp môn Đại Thừa và Thiền Tông Trung Quốc nhồi nắn bóp méo giáo lý chân chính của Đức Phật. Pháp môn thiền Đại Thừa và Thiền Tông Trung Quốc do Hòa Thượng Thanh Từ hướng dẫn.

Thiền hơi thở (Tạoduyên) gồm có bốn pháp tu tập: phong, khí, suyển, tức. Thiền hơi thở do một vị thiền sư (có lẽ là Cảnh Phong).

Thiền hữu sắc (ĐườngVề.6) dùng ý thức mà tu. Bốn thiền hữu sắc và bốn thiền vô sắc tu hành khác nhau, không giống nhau chút nào, sự tu hành của hai loại thiền này cách biệt rất xa và cũng không phải là hai bậc thang của một cây thang. Người muốn nhập định vô sắc thì không cần phải nhập định hữu sắc.

Thiền sư (ThiềnCănBản) là người không giải thích.

Thiền Tông (PhậtDạy.1)(ĐườngVề.1)(Đường Về.7)(GiớiĐức.1)(Tạoduyên)(TrợĐạo) Thiền Tông là cốt tủy của Ðại Thừa, chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo, mang tính triết lý triết học TÁNH KHÔNG, hướng dẫn giới trí thức, dạy tu tập ức chế tâm cho hết vọng tưởng để thành Phật hoặc giữ tâm không niệm thiện niệm ác thì kiến tánh thành Phật, không dạy làm những điều mê tín, lừa đảo. Khi niệm thiện niệm ác vắng bặt từ giờ này đến giờ khác thì lúc bấy giờ có 18 loại hỷ tưởng hiện ra (có thể gọi đó là thần thông), nhưng không làm chủ sanh, già, bệnh, chết; tâm tham, sân, si vẫn còn. Cái đặc biệt nhất của Thiền Tông là khi hết vọng tưởng thì tuệ tưởng xuất hiện thông suốt tất cả các công án. Thấy tánh thì rất rõ ràng vì mỗi khi động tay, động chân đều là Phật Tánh nơi đó, nhưng lại có tật thường dùng ngôn ngữ công án tranh luận hơn thua.Thiền Tông biến Phật giáo thành Tiên Giáo, không gì khác hơn là Lão Giáo và trở thành Phật Giáo Tối Thượng Thừa (Trung Hoa), Bà La Môn trở thành Phật Giáo Ðại Thừa (Ấn Ðộ), còn Phật Giáo Nguyên Thủy chánh gốc thì trở thành Phật Giáo Tiểu Thừa. Thiền Tông đã biến Phật giáo thành một tôn giáo “Hữu ngã” qua hai câu kệ của Phật mà các Tổ Thiền Tông đã khéo cắt xén: “Thiên thượng, thiên hạ, Duy ngã độc tôn”. Bài kệ này có bốn câu, Thiền Tông chỉ lấy hai câu đầu, để xây dựng giáo phái Thiền Tông của mình, rồi tự tôn tự đại giáo pháp mình là trên hết, nên gọi là “Tối Thượng Thừa”, không có một tông phái nào hơn được. Thiền Tông chấp nhận “Phật tánh” xây dựng một giáo phái hữu ngã vĩ đại, mà hiện giờ tín đồ Phật giáo đều chịu ảnh hưởng rất nặng: “Tâm tức Phật, Phật tức tâm" hay "Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh”. Những câu kinh này đã ăn sâu vào đầu óc của phật tử, chớ họ đâu biết rằng, nếu các pháp trong thế gian này chỉ thường còn một chút xíu, thì con người cũng không thoát khổ được. Bởi vì còn có một chút xíu thì còn có “Ngã”, mà còn có ngã thì tu hành không giải thoát được và như thế thì đạo Phật cũng không ra đời, vì có ra đời thì cũng không giải quyết sự khổ đau của con người được. Do đó đạo Phật gọi là Ðạo “Vô ngã”. Các đệ tử của Thiền Tông, người nào cũng mang đầy kiến giải và chấp ngã vĩ đại, chẳng bao giờ biết nhường nhịn ai hết, lúc nào cũng tự kiêu, cho tôn giáo của mình là trên hết, cho Phật Tánh là một pháp môn tuyệt đối nhất trong thế gian này không có pháp môn nào hơn được “Pháp mà vô pháp”. Thiền Tông biến Phật giáo thành một Phật giáo mới, một Phật giáo chấp ngã, kiêu căng tự đắc, lúc nào cũng thích tranh luận (nói nhiều), không đúng thánh hạnh trầm lặng, ít nói của một tu sĩ Phật giáo. Tánh cách của một thiền sư Ðông Ðộ là la, hét, đánh, thuyết giảng lung tung, dịch, viết kinh sách rất nhiều, tuy rằng đã nói: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” nhưng các ngài thường sống không đi đôi với lời nói, thiền sư nào cũng để lại văn thơ quá nhiều. Thiền Tông tri hành không hợp nhất. Ðạo Phật không nói mà hành, vì thế, Phật giáo và Thiền Tông không giống nhau. Thiền Ðông Ðộ thì ức chế tâm rơi vào các định tưởng, phát triển tuệ tuởng, ngược lại thiền định của đạo Phật thì xả tâm tham, sân, si nên làm chủ sự sống chết, chấm dứt luân hồi, tri hành nhất quán. Thiền Tông xây dựng một thế giới Niết Bàn thường, lạc, ngã, tịnh; “Phật tánh” “Kiến tánh thành Phật”, “giác ngộ, triệt ngộ, chứng ngộ, v.v...”

Thiền tư (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) là thiền quán, quán bằng “Ý thức tri kiến”. Thiền tư còn gọi là “Định Vô Lậu”, là “Thiền Xả Tâm”, tu tập bằng sự tư duy quán xét. Thiền tư phải tu tập bằng “Ý Thức” để ly dục ly ác pháp. Muốn tu tập Thiền tư thì phải dùng: “Định Vô Lậu, Định sáng suốt, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Niệm Hơi Thở, Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm và pháp Như Lý Tác Ý”.

Thiền tưởng (TâmThư.2) Người tu tập thiền định sai pháp lọt vào thiền tưởng thì không thực hiện được Tam Minh. Cho nên người tu theo Đại thừa, Thiền tông Mật tông, Tịnh độ tông, thiền yoga, thiền vô vi, thiền xuất hồn v.v… không thể nào chứng quả A La Hán và thực hiện được Tam Minh.

Thiền xả tâm (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3)(Tạoduyên) một thứ thiền tu hành bất cứ trong oai nghi nào cũng đều giữ gìn thân được khinh an, an lạc và tâm được thanh thản và vô sự. Thiền xả tâm là tu hành giữ gìn giới luật. Do giữ gìn giới luật nên tâm tham, sân, si, mạn, nghi bị diệt sạch, nên được giải thoát hoàn toàn. Thiền xả tâm là một thứ thiền, tu hành có giải thoát ngay liền, càng tu càng thấy thân tâm nhẹ nhàng, an ổn, sống một đời sống trọn đầy đạo đức làm người, không làm khổ mình, khổ người và cũng không làm những điều mê tín, lừa đảo người khác. Người tu tập theo thiền xả tâm của Tứ Niệm Xứ thì vọng niệm đến càng tốt, vì có đối tượng dùng pháp tác ý trong chánh tư duy. Nhờ có tu tập như vậy tri kiến giải thoát sẽ hiện bày. Do tri kiến giải thoát hiện bày thì sở hành và tham trước không còn. Sở hành và tham trước không còn thì tâm không phóng dật; tâm không phóng dật thì thành chánh giác. Muốn tu tập thiền xả tâm thì phải nương vào những oai nghi mà đức Phật đã dạy: 1/ Khi đi biết mình đi. 2/ Khi đứng biết mình đứng. 3/ Khi liếc ngó hai bên (biết mình...) 4/ Khi co duỗi cúi ngước (biết mình...) 5/ Khi đắp y, mang bát. 6/ Khi ăn uống thuốc men đều phải nhẹ nhàng phù hợp với oai nghi, phải khéo tìm phương tiện từ bỏ năm ấm cái, cho đến đứng, ngồi, nằm, thức, ngủ, nói năng hay im lặng đều phải nhiếp tâm không cho tán loạn.

Thiện hữu tri thức (PhậtDạy.1)(PhậtDạy.4)(ThiềnCănBản) là người đã tu tập xong, là những bậc tu chứng: thứ nhất là chứng Giới luật; thứ hai là chứng Thiền định; thứ ba là chứng tuệ Tam Minh. Bậc thiện hữu tri thức là người không những học thức thông suốt giáo pháp mà còn tu hành chứng đạo, sống một đời sống đạo đức trọn vẹn, giới luật không hề vi phạm, thường làm gương đức hạnh cho mọi người soi. Họ là những bậc Thầy của chúng ta. Trong cuộc đời tu hành gặp được một bậc thiện hữu tri thức là khó, gặp được chánh pháp cao minh chỉ rõ chân lí của loài người cũng không phải dễ. Thiện hữu khi cần giải thích thì giải thích, khi không cần thì không giải thích.

Thiện pháp (PhậtDạy.1)(PhậtDạy.2)(CầnBiết.4)(TruyềnThống.2)(ĐườngRiêng) là giới luật, là Phạm hạnh, là đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ mình khổ người. Thiện pháp là tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự. Hằng ngày giữ gìn và bảo vệ tâm bất động thì đó là điều toàn thiện, rất thiện, thật sự là thiện, không làm khổ mình, khổ người và khổ tất chúng sinh. Pháp thiện TÂM BẤT ÐỘNG là thiện cứu cánh, là chân lý của Phật giáo, là “Ðức hạnh cao quý”của loài người và của Thánh nhân. Muốn tu tập phải luôn luôn khắc phục tâm, chế ngự tâm, dẫn tâm và làm chủ tâm mình, để biết sống trọn vẹn trong những hành động đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Người tu tập phải nhiệt tâm tinh cần sống một đời sống đạo đức toàn thiện, là người chứng đạo, tu tập và sống thiện pháp đều nằm trong cuộc sống rất thực tế, cụ thể, thường đem lại lợi ích thiết thực cho con người. Đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ mình khổ người gồm có những pháp: Thất Giác Chi, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Bất Hoại Tịnh, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm. Trong Tứ Chánh Cần gồm có các định: Ðịnh Niệm Hơi Thở, Ðịnh Vô Lậu, Ðịnh Sáng Suốt, Ðịnh Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Thiện pháp chuyển hóa ác pháp (TruyềnThống.2) Ví dụ: Người ta chửi mình, mình không chửi lại, đó là lấy thiện pháp chuyển ác pháp. Biết nhẫn, và biết vui lòng trước nghịch cảnh của nhân quả nên mọi việc đều trở lại an ổn bình thường, đó gọi là lấy thiện pháp chuyển ác pháp.

Thiện Thệ (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) nghĩa là bậc đã tu tập hoàn thành con đường Bát Chánh Ðạo, bậc đã làm xong các hạnh lành, không còn trở lui về ác pháp và cuộc đời này nữa. Thiện Thệ còn gọi là “Thánh hạnh tự tại sinh tử”.

Thiện tuệ của Phật Giáo Nguyên Thủy (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là nói tri kiến giải thoát, nói rõ nghĩa hơn nó là Chánh tư duy, là sự suy tư để lìa xa, từ bỏ, hay yểm ly tham, sân, si, mạn, nghi, v.v…

Thiệt căn (TâmThư.1) là lưỡi.

Thiệt thức (TâmThư.1) là cái biết của lưỡi.

Thiệt trần (TâmThư.1) là vị của vạn vật. (Vị cay, đắng, ngọt, bùi,…).

Thiệt tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là cái nếm mùi vị của tưởng uẩn không phải bằng thiệt thức (nhục thiệt) của chúng ta.

Thiệt tưởng thông (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là một loại thần thông của ngoại đạo nếm được mùi vị cách xa ngàn dặm còn gọi là thiên thiệt tưởng thông.

Thủ là duyên của Sanh (12Duyên) Thủ là cố giữ lại của cải tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, vợ con và những người thân quyến thuộc, anh em bạn hữu. Do chúng ta có và có rất nhiều, không biết buông xả nên chúng ta mới chịu biết bao nhiêu thứ khổ đau.

Thủy giới (PGTruyền Thống.1) Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Nội thủy giới: Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như: Mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ,

Thủy táng (CầnBiết.1) là những người dân sống trên sông nước, họ không có địa táng, hỏa táng hoặc điểu táng, khi có người chết, họ an táng bằng cách neo vào quan tài một tảng đá to, dùng thuyền chở ra giữa dòng sông rồi họ đẩy quan tài xuống sông. Lại có một số người sống ven biển như dân tộc Ðại Hàn, người chết họ đem thiêu xác, rồi lấy tro đổ xuống biển, đó cũng là loại thủy táng, thủy táng bằng tro. Loại thủy táng nào cũng thiếu vệ sinh, gây ra môi trường ô nhiễm cho cuộc sống của con người.

Thuyết định mệnh (Tạoduyên) thì không thay đổi được, vì nó cố định. Sự cố định đó là thuyết định mệnh.

Thuyết nhân quả (Tạoduyên) thì làm chủ được, và thay đổi được vì nó di chuyển. Sự thay đổi đó là thuyết nhân quả.

Thuyết pháp (GiớiĐức.2) chỉ là lời nói, lý luận suông mà thôi. Thuyết pháp dần dần đi đến nuôi lớn ngã mạn, kiêu căng tự đắc, cố chấp dính mắc chạy theo tâm ham muốn danh lợi thế gian và chìm đắm trong dục lạc vật chất, nhưng tâm họ khéo lý luận để che đậy, lừa dối lại chính họ.

Thư giãn Xả Tâm (CưSĩTu) là trong giờ nghỉ, tâm khởi lên niệm gì, thí dụ muốn nói chuyện, muốn làm cái này cái kia thì nhất định không làm theo nó. Thật sự ra tối ngày giữ mình là người vô sự, không làm gì hết, cứ ngồi mà xả tâm thôi, niệm gì khởi lên cũng xả hết, riết rồi mình có cái lực khiến cho đủ cả 7 Giác Chi xuất hiện. Cái tâm lúc đầu khởi lên sai bảo mình vậy, sau đó nó không sai bảo được nữa là mình đã phá sạch các dục, tức là thư giãn xả tâm.

Thứ tự của bảy pháp giác Chi (PhậtDạy.2) trong kinh ghi như sau: 1- Niệm Giác Chi, 2- Trạch Pháp Giác Chi, 3- Tinh Tấn Giác Chi, 4- Hỷ Giác Chi, 5- Khinh An Giác Chi, 6- Ðịnh Giác Chi, 7- Xả Giác Chi (là lý thuyết suông không phải pháp tu hành), khi tu tập pháp Thân Hành Niệm trên Tứ Niệm Xứ thì Bảy Năng Lực Giác Chi xuất hiện theo thứ tự như sau 1- Tinh Tấn Giác Chi, 2- Niệm Giác Chi, 3- Khinh An Giác Chi, 4- Hỷ Giác Chi, 5- Ðịnh Giác Chi, 6- Xả Giác Chi, 7- Trạch Pháp Giác Chi. Bảy Giác Chi này được tu tập, làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ Ba Minh thì phải tu tập Tứ Niệm Xứ trong giai đoạn cuối cùng, tức là thực hiện Thân Hành Niệm.

Thứ tự Năng lực Bảy Giác Chi (PhậtDạy.2) 1- Tinh Tấn Giác Chi, 2- Khinh An Giác Chi, 3- Hỷ Giác Chi, 4- Niệm Giác Chi, 5- Ðịnh Giác Chi, 6- Xả Giác Chi, 7- Trạch Pháp Giác Chi.

Thưa hỏi cặn kẽ (PhậtDạy.4) thực hành pháp mà không chịu thưa hỏi cặn kẽ thì sẽ gặp nhiều khó khăn xảy ra trong khi đang tu tập, thì sẽ không biết cách thức vượt qua những chướng ngại khó khăn đó, sự tu tập sẽ không tiến bộ.

Thưa hỏi pháp ngữ (Phậtdạy.3) khi tu tập phải thưa hỏi cho kỹ lưỡng rồi mới tu tập. Trong khi tu tập có điều chi bất ổn thì phải thưa hỏi để chỉnh sửa cho đúng cách, cho đúng pháp. Nếu không hỏi pháp ngữ thì sự tu tập sẽ sai pháp, có thể đi đến bệnh tật, điên khùng, rối loạn thần kinh.

Thừa kế của nghiệp (ĐườngVề.9) tức là nghiệp sanh ra chúng ta ra.

Thức (Đường Về.7)(ĐườngVề.1) là sự hiểu biết, nhưng chưa có sự phân biệt, còn trí là sự hiểu biết có phân biệt thiện ác rõ ràng. Thức chỉ là tỉnh thức, tỉnh táo chứ chưa có trí tuệ Tam Minh. (trong 12 duyên) Thức là sự kết hợp noãn châu và tinh trùng sanh ra danh sắc.

Thức ấm ma (Đường Về.7) gồm các ma của thức ấm.

Thức phải biết mình thức (PhậtDạy.4) thức đang nghĩ ngợi những điều gì hay không nghĩ ngợi, đều phải biết rất rõ ràng, mới gọi là thức. Thức mà không biết tâm mình đang nghĩ một điều gì thì chưa phải là đang thức mà đang mê, đang chạy theo dục lạc, danh, lợi, sắc, thực, thùy của thế gian. thức phải tỉnh thức hoàn toàn biết từng tâm niệm, từng cảm thọ khi xảy ra đều biết ngay liền.

Thức thức (12Duyên) là cái biết của những người đã tu chứng đạo (tuệ Tam Minh).

Thức thực (ĐườngVề.9) là cách thức ăn bằng ý thức, khi ý thức khởi ham thích cái này cái nọ cái kia, đó là thức thực. Ví dụ 1: Ý thức khởi thèm muốn ăn bánh trung thu, thèm muốn ăn tức là thức thực. Ví dụ 2: Ý thức khởi ham muốn một chiếc xe hơi, ham muốn chiếc xe hơi tức là thức thực. Khi chúng ta khởi tâm ham muốn một điều gì, một vật gì, một món ăn gì, ngay đó là chúng ta đang thức thực. Ðối với đạo Phật xem bốn sự ăn uống này (1- Ðoàn thực loại thô hay loại tế. 2- Xúc thực. 3- Tư niệm thực. 4- Thức thực) là ác pháp, là bất tịnh, là khổ đau, là trói buộc. Người tu hành theo Phật giáo cần phải quán xét nhàm chán trên bốn sự ăn uống này. Người tu sĩ đạo Phật cần phải cảnh giác, cần phải tu tập, cần phải quán xét và cần phải sanh tâm nhàm chán trong bốn sự ăn uống này.

Thức uẩn (Phậtdạy.3)(ĐườngVề.9)(CầnBiết.4)(12Duyên)(LinhHồn) hay Thức thủ uẩn là cái biết của thân, tâm người đã tu chứng đạo, hoạt động siêu không gian và thời gian, là phần vô hình của thân ngũ uẩn. Nó thuộc về trí tuệ Tam Minh, Lục Thông của những người đã tu chứng quả A La Hán, còn người tu chưa chứng quả A La Hán thì không bao giờ sử dụng được nó. Thức uẩn đối với mọi người bình thường thì nó đang bất động, không hề hoạt động một chút nào cả. Muốn đoạn diệt được thủ uẩn này thì chỉ có tu pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Thức vô biên xứ tưởng định (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) một loại định thức vô biên xứ tưởng trong bốn định vô sắc của ngoại đạo.

Thực hành (PhậtDạy.2) là làm theo phương pháp đã dạy, phương pháp dạy như thế nào thì làm đúng như thế nấy. Thực hành là biến ra hành động theo đúng lời dạy không làm sai.

Thực hành Tu tập (CầnBiết.4) là làm theo phương pháp đã dạy, phương pháp dạy như thế nào thì làm đúng như thế nấy. Nghĩa của thực hành là biến ra hành động theo đúng lời dạy không làm sai. Tu tập có nghĩa là sửa đổi tâm tánh, thiện xảo trong các pháp thực hành, biết linh động khi thực hành cho phù hợp trong mọi tình huống, mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh… Chữ tu tập của Phật giáo có nghĩa là tu sửa đổi những lỗi lầm, để không còn lỗi lầm nữa, để từ bỏ thói hư tật xấu, để từ người xấu trở thành người tốt, để từ phàm phu trở thành Thánh nhân. Chữ tu tập cũng có nghĩa là thực hành nhưng thực hành rất linh động nhằm thực hiện đạo đức làm người làm Thánh. Tu là sửa sai những lỗi lầm, là ngăn ngừa các ác pháp và diệt trừ các ác pháp để cho tâm được thanh thản nhẹ nhàng an lạc, v.v…

Thực hiện đức hiếu sinh thân hành, khẩu hành và ý hành (TâmThư.1) là sự cung kính và tôn trọng người trên kẻ dưới. Khi người khác hỏi mình mà không trả lời là thiếu đức cung kính, tôn trọng; khi đi trên đường gặp nhau mà không chắp tay cúi đầu chào nhau là thiếu đức cung kính và tôn trọng người khác.

Thực hiện trí tuệ Tam Minh (CầnBiết.4) Khi tâm có niệm không phóng dật, thì ngay lúc bấy giờ chúng ta thành tựu niệm tuệ tối thắng tức là trí nhớ vô cùng tận, không có một điều gì ở quá khứ mà không nhớ (Túc Mạng Minh). Khi tu tập đạt niệm tuệ tối thắng xuất hiện thì mới bắt đầu có trí tuệ. Niệm tuệ tối thắng chưa phải là trí tuệ, khi chúng ta tu tập nó sẽ tiếp tục nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói từ lâu. Từ sự tu tập đó ta mới có trí tuệ, nên Đức Phật dạy: “Vị ấy có trí tuệ”. Khi có trí tuệ ta tiếp tục tu tập rèn luyện để thành tựu trí tuệ về sanh diệt (Thiên Nhãn Minh), thành tựu trí tuệ nhập Thánh thể tức là Niết Bàn, đưa đến đoạn tận khổ đau (Lậu Tận Minh). Ở đoạn kinh này các nhà học giả không thể hiểu được và cũng không thế nào kiến giải và tưởng giải được. Xin đọc lại đoạn kinh này, rồi chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn tu tập thì sẽ hiểu rõ hơn: “Thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến đoạn tận khổ đau”. Thành tựu trí tuệ về sanh diệt chỉ là một lời nói nhắc nhở chúng ta tu tập có trí tuệ thì phải thành tựu trí tuệ về sống chết tức là trí tuệ Lậu Tận Minh, chứ không phải có trí tuệ nhớ lại nhiều đời nhiều kiếp mà thôi. Muốn thành tựu trí tuệ về sự sống chết thì phải dùng năng lực Trạch Pháp Giác Chi mà dẫn trí tuệ về sanh tử, về Bát Thánh Đạo, về nhân quả. Khi thành tựu trí tuệ về sanh tử xong thì tiếp tục dùng Trạch Pháp Giác Chi dẫn trí tuệ nhập vào Thánh thể (Niết Bàn) để hoàn toàn đoạn tận khổ đau. Đây là phương pháp tu tập để thực hiện trí tuệ Tam Minh. Và đây là phương pháp cuối cùng trong Đạo Phật.

Thực phẩm thanh tịnh (TâmThư.2) là tất cả những thực phẩm do Phật tử cúng dường cho tu sĩ và để nơi khất thực cúng dường cho tu sĩ

Thực (10Lành) là ăn uống.

Thương mến và yêu thích (TêNgưu) là một tình cảm mà con người ai cũng có, hoặc nhiều hay ít, người mà tình cảm ít thì mọi người cho người đó tính tình khô khan, cọc cằn. Còn người có tình cảm nhiều thì họ cho người đó là tính tình bi lụy yếu đuối, nghe ai nói điều gì đau khổ cũng dễ bị xúc động thương xót. Cho nên dù tình cảm nhiều hay ít nó cũng làm cho chúng ta đau khổ, vì thế một người tu theo Phật giáo đều phải đoạn dứt tất cả tình cảm, vì nó là nguyên nhân sinh ra muôn thứ đau khổ. Muốn đoạn dứt những tình cảm nhỏ hẹp ích kỷ này và để mở rộng Lòng yêu thương rộng lớn thì chúng ta cần phải sống một mình, nếu không sống một mình thì không bao giờ đoạn dứt được những tình cảm nhỏ hẹp ích kỷ.

Thương mình (ĐạoĐức.2) thì trước mọi hoàn cảnh xảy đến nghịch ý, trái lòng không nên giận hờn, buồn phiền. Giận hờn, buồn phiền là làm cho mình đau khổ là mình không thương mình, và như vậy mình thiếu đạo đức Từ Tâm với mình.

Thường hằng bất biến (PhậtDạy.4) luôn luôn tồn tại, không thay đổi. Kinh sách Ðại Thừa đều cho Phật là bậc nhất thiết trí, là bậc nhất thiết kiến và nhất là tánh biết, tánh thấy, tánh nghe thường hằng bất biến (tri kiến luôn luôn tồn tại).

Thường kiến (CầnBiết.2)(CầnBiết.3)(12Duyên) là bị dính mắc vào chấp có, là một loại luận thuyết mơhồ trừu tượng, cho rằng người chết còn linh hồn cho rằng có thế giới siêu hình, có bản thể vũ trụ, có tiểu ngã, đại ngã, có thần thức, có Phật tánh, có Thiên Ðàng, có Ðịa Ngục, có Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có Chúa trời, có thần, quỷ, ma, v.v... Những người chấp thường kiến là những ngườithường sống trong mê tín, lạc hậu, sống trongmộng tưởng, xây dựng cảnh giới siêu hình, thường cầu cúng, tế, lễ bái và ước vọng làm những điều theo kinh sách dạy để khi chết được sanh lên Cực Lạc Thiên Ðàng của cõi Trời, cõi Niết Bàn hay cảnh giới chư Phật. Thiền tông, Mật tông đềuthuộc về thường kiến.

Thường kiến, Đoạn kiến (12Duyên) Thường Kiến là bị dính mắc vào chấp Có; Đoạn Kiến thường bị dính mắc vào chấp Không.

Thượng (PhậtDạy.2) là thanh tịnh. (tăng thượng)

Thượng nguơn (10Lành) ăn chay suốt tháng giêng âm lịch

Thượng Thủ (PhậtDạy.2) nghĩa là đứng đầu. Tâm không phóng dật là pháp đứng đầu trong mọi pháp.

Thượng Tọa Bộ (là Phật Giáo Nguyên Thủy, là phái Tiểu thừa Nam tông)(PhậtDạy.4) gồm những bậc Trưởng Thượng y chỉ nguyên gốc Giới Kinh, Giới hạnh, Giới hành Phật dạy để tự lực tu tập và phát triển rất chậm về phương nam lan truyền qua hướng Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Cam-Bu-Chia và phía nam Việt Nam, lấy Ðại Tạng Nikaya làm gốc, trong chùa chỉ thờ duy nhất một đức Phật Thích Ca, có nơi thêm vài đệ tử của Phật Như Ngài Ca Diếp, Ngài xá lợi Phất.

Thọ (Cảm thọ) (Phậtdạy.3)(PhậtDạy.4)(12Duyên)(CầnBiết.2)(CầnBiết.3)(CầnBiết.5) là các cảm thọ của thân và tâm, cảm giác thích thú, cảm mến, giận hờn, thương ghét. Thọ là các cảm thọ về thân là đau nhức, mỏi; về tâm là buồn phiền, rầu lo thương ghét, giận hờn v.v… nên kinh dạy “Thọ sanh ra ái”. Thọ gồm có ba: Thọ Lạc Thọ khổ Thọ bất lạc, bất khổ.

Thọ (Thọ nhận) (CữSĩTu) là chấp nhận, đồng ý, chịu phép.

Thọ ấm ma (Đường Về.7) gồm có các cảm thọ nơi sắc uẩn, nơi tưởng uẩn, nơi tâm uẩn.

Thọ Bát Quan Trai (ĐườngVề.3)(Đường Về.7)(ĐườngVề.10)(TruyềnThống.1)(CữSĩTu)(8QuanTrai) là ngày các cư sĩ tu tập chín hạnh Thánh trong Mười Giới Ðức Sa Di và họ phải giữ gìn nghiêm chỉnh Mười Giới Ðức Sa Di như những bậc xuất gia. Người cư sĩ tập sống trọn một ngày một đêm như Phật, như chư Hiền Thánh Tăng. Ngày Bát Quan Trai Giới hãy xả bỏ hết duyên trần tục, đừng lo nghĩ, đừng bận tâm đến con cái, cha mẹ, công ăn việc làm, của cải, tài sản và việc nhà cửa, để một ngày một đêm làm Thánh Hiền vô sự, tâm hồn được thanh thản, an lạc và vô sự, sửa sai những lỗi lầm, tâm ly dục ly ác pháp, nhập vào Bất Ðộng Tâm Ðịnh với nhân quả toàn thiện; để một ngày đêm trở thành những người có đạo đức sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh; một ngày đêm rèn luyện đạo lực thiền định xả tâm làm chủ sự sống chết, bệnh khổ; để sống trực nhận đời chẳng có gì là Ta, là của Ta cả, chỉ là một chuỗi ngày dài vô thường, đau khổ của kiếp người. Thọ Bát Quan Trai là một sự tu tập buông xả để học những đức hạnh của bậc Thánh Tăng, là để tu tập tâm ly dục ly ác pháp trong một ngày để được tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự, là một ngày để tu tập giúp cho tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không. Thọ Bát Quan Trai là một ngày tập sống như Phật. Gieo hạt giống Thọ Bát Quan Trai đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc thì ngày mai nó sẽ trổ hoa quả giải thoát mà chính người gieo phải được thọ hưởng. Thọ Bát Quan Trai là sống theo tinh thần cuộc sống của đạo Phật trong thời đức Phật là tu tập sống đời sống như Phật, y như giới luật, như chư Hiền Thánh Tăng: 1/ Sống trầm lặng, độc cư, không được nói chuyện, phải im lặng như Thánh, phải nương theo pháp Thầy đã dạy mà tu tập. 2/ Giờ giấc phải nghiêm chỉnh, giờ ăn, giờ nghỉ, giờ tu tập, giờ thư giãn đều phải giữ gìn đúng đắn, không được làm sai. 3/ Sống ăn ngày một bữa, không ăn uống phi thời. 4/ Tự chọn một nơi yên tịnh để vừa tọa thiền, vừa kinh hành, vừa thư giãn và nghỉ ngơi cho riêng mình. 5/ Suốt ngày đêm tu tập đúng theo các pháp hành. 6/ Suốt ngày đêm tu tập phải thu lượm kết quả trong các pháp hành. 7/ Trong khi ăn uống phải giữ im lặng (không được nói chuyện). 8/ Trong lúc hội họp phải giữ im lặng Như Thánh, ai có phận sự nói thì nói, ai không thì thôi. 9/ Sống ngày đêm phải trụ tâm như Thánh, không có si mê ham ngủ nghỉ. 10/ Phải siêng năng đi kinh hành để đối trị hôn trầm thuỳ miên, không được lười biếng ngồi nhiều”. Sự ồn ào, sinh hoạt, thuyết giảng hoặc góp ý kiến này, ý kiến kia làm náo động là không đúng cách tu tập của đạo Phật. Vì chúng ta hiện giờ chưa ai tu xong nên có nhiều ý kiến, tức là có nhiều kiến giải, mà có nhiều kiến giải tức là đã đi lạc đường tu. Khi các bạn trình sự tu tập, mình chỉ được ghi chép mà không có lời nào. Nếu các con tổ chức Thọ Bát Quan Trai đúng như lời Thầy dạy thì sự tu tập tiến bộ rất lớn, có kết quả rất nhiều, tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Thọ Bát Quan Trai Giới là gieo duyên xuất gia, là bước thứ hai trên đường tu tập làm chủ sanh, già, bệnh, chết của người cư sĩ phật tử. Nhờ có gieo duyên Bát Quan Trai Giới nên đời đời kiếp kiếp sanh ra làm người liền gặp chánh pháp, không gặp tà sư ngoại đạo. Ví như cây cổ thụ kia ngả về hướng nào thì bóng của nó sẽ ngã theo hướng ấy. Thọ Bát Quan Trai là phương pháp tu tập giữ gìn giới đức Thánh Tăng, là một ngày ly dục ly ác pháp, là ngày tu hành đúng pháp của Phật, được một ngày giải thoát hoàn toàn. Ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày biết buông xuống hết những gì đang trói buộc trong đời thì thấy một chân trời hạnh phúc tại ngay đó. Thọ Bát Quan Trai là phương pháp học làm Phật một ngày, chỉ một tháng có một ngày làm Phật thì đó là gieo duyên với chánh Phật Pháp để kiếp sau còn có duyên gặp được Chánh Phật Pháp, đức Phật ví dụ như cây cổ thụ kia nghiêng về hướng nào thì bóng của nó nghiêng về hướng ấy. Ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày gieo nhân với chánh Pháp của Phật, ngày ấy không bao giờ mất, ngày ấy là ngày thắp sáng ngọn đèn trí tuệ giải thoát, và ngọn đèn trí tuệ ấy cháy mãi cho đến khi hoàn toàn chấm dứt sanh, tử, luân hồi vào Niết Bàn. Như vậy ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày quan trọng nhất của đời người cư sĩ, là một mốc quan trọng quyết định cho cuộc đời tu hành theo Chánh Phật Pháp. Thọ Bát Quan Trai là người cư sĩ phải sống trong một ngày tưởng nhớ Phật, sống và tu tập như Phật, trong một ngày không hề vi phạm tám giới: sống trầm lặng độc cư một mình, không nói chuyện tào lao, không làm ồn náo, không nghe thuyết giảng, không ăn uống phi thời, không ca hát và nghe ca hát, không trang điểm làm dáng làm đẹp, giữ tâm từ bi thương xót chúng sanh, không khởi tâm dâm dục, không nói lời không đúng sự thật, không uống rượu và những thứ nghiện ngập, không tham lam trộm cắp. Suốt trong 12 tiếng chuyên tâm tu tập, thường hằng đẩy lui các chướng ngại pháp trên thân, thọ, tâm, và pháp. Tu như vậy gọi là Thọ Bát Quan Trai. Là cư sĩ, gia duyên có rất nhiều việc không thể bỏ quên trọng trách và bổn phận của mình đối với những người thân thương trong gia đình, như vậy không cần phải đợi ngày 15 và ngày 30 mới Thọ Bát Quan Trai mà ngày nào cũng tốt miễn là được rảnh công việc. Trong một tháng ta chọn một ngày nào rảnh rổi thì tu tập Thọ Bát Quan Trai đều có kết quả tốt, chứ không riêng gì ngày 15 và ngày 30. Mặc dù trong kinh sách Nguyên Thủy có dạy ngày 15 và ngày 30 Thọ Bát Quan Trai có nghĩa là chia đều trong tháng cách 15 ngày một kỳ Thọ Bát, nhưng đó là sự chia đều để dễ tu. Còn tu tập Thọ Bát Quan Trai theo kiểu tụng kinh niệm Phật hiệu, nghe thuyết pháp, ngồi thiền ức chế tâm và thân thì đó là lối giải trí tôn giáo chứ tu tập như vậy không có lợi ích gì cả. Thọ Bát Quan Trai không được tụng niệm hoặc lạy hồng danh sám hối như Tịnh Ðộ Tông. Thọ Bát Quan Trai đúng cách của Phật giáo thì không được tập trung đông người vào Thiền đường, Tổ đường, Ðại hùng bảo điện, mà chỉ mỗi người ở riêng một cái thất, sống độc cư, phòng hộ sáu căn và tu tập Tứ Niệm Xứ đẩy lui các chướng ngại pháp trên bốn chỗ: thân, thọ, tâm, pháp, khiến cho thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự suốt ngày hôm ấy, giống như Phật và chúng Tỳ kheo Tăng và Tỳ kheo Ni ngày xưa trong thời Phật còn tại thế. Có tu tập đúng như vậy mới gieo duyên với Chánh Pháp. Nhờ đó, muôn đời ngàn kiếp không sợ mất chánh pháp. Hãy đề phòng những loại Thọ Bát Quan Trai không đúng chánh pháp của Phật. Ví dụ: Thọ Bát Quan Trai bằng cách tụng kinh, niệm Phật, trì chú, ngồi thiền nghe thuyết pháp... đó là Thọ Bát Quan Trai của Bà La Môn.

Thọ dụng (PhậtDạy.2)(CầnBiết.3) là chấp nhận những vật dụng cần thiết vừa đủ để giữ gìn cơ thể không đói khổ, rét lạnh, muỗi mòng, nắng, gió, mưa, bão, che đậy kín đáo, không được trần truồng, v.v… tác ý thọ dụng cho một đời sống Phạm hạnh, có nghĩa là phải sống thiểu dục tri túc, ba y một bát, tứ sự vừa đủ không được cất giữ thừa dư.

Thọ khổ (TruyềnThống.2) có hai phần: Tâm phiền não, sợ hãi, buồn rầu, lo lắng, tức giận, ganh tỵ, ghen ghét, căm thù v.v.. Ðó là thọ khổ thuộc về tâm. Thứ hai thuộc về thân. Thân bị bệnh đau, nhức, tật nguyền v.v... Muốn thoát ra những sự đau khổ này thì giới luật chúng ta phải chấp nhận nghiêm chỉnh, có nghĩa là phải chấp nhận và sống một đời sống giới luật không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào.

Thọ là duyên của Ái (12Duyên) hưởng thụ những vật chất nên thường cảm nhận thích thú. Muốn có Cảm Thọ thì phải có sự xúc chạm, nếu không có Xúc Chạm thì Cảm Thọ không biết gì cả.Ví dụ: Muốn thưởng thức một miếng ăn ngon thì phải ăn thực phẩm đó. Khi món ăn đó va chạm vào miệng lưỡi thì mới cảm nhận món ăn ngon, dở. Chúng ta lấy tay sờ vào chiếc nệm thì mới biết chiếc nệm mềm và êm ái. Đó là do tay của chúng ta Xúc Chạm vào nệm.

Thọ lạc (TruyềnThống.2) là chạy theo dục lạc thế gian như ăn uống, ngủ nghỉ phi thời, chạy theo tâm dâm dục, lấy của không cho, không từ bỏ vọng ngữ, không từ bỏ thuốc lá, rượu men, không từ bỏ trang điểm, ca hát, không nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng lòng, không sống cho riêng mình bằng hạnh độc cư.

Thọ ngũ giới (ĐườngVề.8)(CữSĩTu)(10Lành)(CữSĩTu) Thọ Ngũ Giới có hai phần: Thọ có nghĩa là chấp nhận, đồng ý, chịu phép. Ngũ Giới có nghĩa là năm giới cấm. Thọ Ngũ Giới có nghĩa là chấp nhận sống đúng năm giới cấm không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào trong năm giới này, là chấp nhận sống năm giới, năm đức hạnh nhân bản - nhân quả tự không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Trong đạo Phật, năm giới cấm này là năm tiêu chuẩn làm người, mình phải tự nguyện, tự giác chấp nhận những giới đức, giới hạnh này làm cuộc sống. Truyền năm giới cấm cho quý phật tử tức là truyền dạy năm đức hạnh làm người. Người nào giữ tròn năm đức hạnh này mới xứng đáng làm người. Năm Giới đức hạnh này gồm có: 1- Giới Cấm Sát Sanh = Giới Ðức Hiếu Sinh. 2- Giới Cấm Tham Lam Trộm Cướp = Giới Ðức Buông Xả. 3- Giới Cấm Tà Dâm = Giới Ðức Chung Thủy. 4- Giới Cấm Vọng Ngữ = Giới Ðức Thành Thật. 5- Giới Cấm Uống Rượu = Giới Ðức Minh Mẫn. 1- Giới thứ nhất không giết hại và ăn thịt chúng sanh, đó là đức hiếu sinh tức là lòng thương yêu sự sống trên hành tinh này vậy. 2- Giới thứ hai không tham lam trộm cắp, cướp giựt, không lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, đó là đức buông xả, đức thiểu dục tri túc tức là xả ly lòng không tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, từ bỏ lấy của không cho, không bao giờ khởi ý trộm cắp, dù trái cà, trái bí, cây đinh, cọng kẽm, nếu người ta không cho thì mình không được tùy tiện lấy đi... 3- Giới thứ ba không tà dâm tức là đức chung thủy. Ðức chung thủy là lòng thương yêu một vợ một chồng, không lang chạ với người khác. Ðức chung thủy tạo nên một gia đình đầm ấm, hạnh phúc chồng thương vợ, vợ thương chồng với một lòng thương yêu chân thật, một tình nghĩa keo sơn gắn bó. Sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách. Ðây là một đạo đức gia đình mà mọi người trên thế gian này cần phải học và sống cho đúng để không làm khổ những người thân thương đầu áp tay gối của mình. 4- Giới thứ tư không nói dối tức là đức thành thật. Ðức thành thật là một đức hạnh tạo cho mình có đầy đủ lòng tin đối với mọi người. Vì thế chuyện thấy nói thấy, chuyện không thấy nói không thấy; chuyện có nghe nói có nghe, chuyện không nghe nói chuyện không nghe, chứ thấy nói không thấy, chứ nghe nói không nghe là nói dối. Người không có đức hạnh thành thật thường đem chuyện của người này nói cho người khác nghe hoặc đem chuyện người khác nói cho người này nghe hoặc nói thêu dệt, nói lật lọng đều là những người thiếu đức thành thật và đức tôn trọng mình tôn trọng người. 5- Giới thứ năm không uống rượu, uống cà phê, không hút thuốc lá thuốc lào, thuốc phiện, v.v... đó là đức minh mẫn. Ðức minh mẫn là một đức hạnh sáng suốt. Ðức minh mẫn sáng suốt là tự biết mình, làm chủ mình mình không để mình nghiện ngập rượu, thuốc lá, thuốc lào, cà phê, thuốc phiện, v.v... Vì những loại xa xỉ này đem tai hại và khổ đau cho bản thân mình và gia đình mình như cha, mẹ, vợ, con.

Thọ uẩn (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4)(LinhHồn) là những cảm thọ của sáu căn trong thân, là phần vô hình của thân ngũ uẩn. Thọ là cảm giác nhận ra: an lạc, mừng vui, đau khổ, phiền não, tức giận v.v… Thọ uẩn có ba thọ: thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ. Có ba thức sử dụng thọ này: sắc thức, tưởng thức, thức thức. Muốn đoạn diệt được thủ uẩn này thì cần tu pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Thọ trì ngũ giới (3Qui5Giới) là hoan hỷ chấp nhận sống giữ gìn đúng năm điều nghiêm cấm không hề vi phạm một lỗi nào trong năm giới cấm này, là giữ gìn đúng năm tiêu chuẩn làm Người sống có đạo đức, rồi mới tiến lên làm Thánh, làm Phật. 1) Phương diện CHỈ (ngăn ác diệt ác pháp) thì: - Không được sát hại chúng sanh (Ðức hiếu sinh – Tôn trọng sự sống) - Không được tham lam trộm cướp (Ðức buông xả – Tôn trọng tài sản) - Không được tà dâm (Ðức chung thuỷ – Tôn trọng hạnh phúc) - Không được vọng ngữ dối trá (Ðức thành thật – Tôn trọng sự thật) - Không được rượu chè (Ðức minh mẫn – Tôn trọng lý trí). 2) Phương diện TÁC (sanh thiện tăng trưởng thiện pháp) thì: - Phải hộ sinh - Phải bố thí - Phải phạm hạnh - Phải chân thật - Phải trí tuệ. Cách thọ năm giới có bốn phần như sau: - Một phần (chỉ một giới) - Ít phần (chỉ hai giới) - Nhiều phần (chỉ ba hay bốn giới) - Toàn phần (thọ cả năm giới) Phải tự lượng sức và hoàn cảnh của mình kham giữ được bao nhiêu rồi mới thọ, không nên thọ bừa. Nếu không đủ sức thọ một giới nào cả, mà chỉ thọ ba Quy-y thôi, thì gọi là Ưu-Bà-Tắc, Ưu Bà Di (Nam Nữ Phật Tử).

Thọ trì pháp (PhậtDạy.4) là tu tập hành trì thực hành theo đúng pháp đã dạy. Tìm hiểu ý nghĩa của pháp là phải song hành với sự tu tập hành trì, nhờ có tu tập hành trì thì sự tìm hiểu ý nghĩa mới thâm sâu, mới cụ thể, rõ ràng. Người chỉ tìm hiểu ý nghĩa pháp mà không có hành trì tu tập thì sự tìm hiểu ấy cạn cợt giống như các nhà học giả, nhiều khi lọt vào tưởng giải, khiến cho sự hiểu biết lệch lạc sai lầm.

Thoát tai nạn hữu vi (10Lành) nghĩa là tư tưởng không còn bị ảnh hưởng vật chất thế gian, đời sống không còn nô lệ cho vật chất. Thân, tâm của chúng ta hoàn toàn hòa hợp với mọi đối tượng nghĩa là tùy thuận với tất cả chúng sanh, (chúng sanh tức là thân và tâm của mình, thân và tâm của mình tức là chúng sanh.)

Thói quen (ĐạoĐức.1) là do một hành động gì huân tập nhiều lần đã thấm nhuần. Thói quen có hai phần: phần tốt và phần xấu. Một thói quen xấu mà muốn bỏ để trở thành thói quen tốt, thì phải vất vả, gian nan mới bỏ được.

Thôn tưởng (PhậtDạy.4) là voi, bò ngựa cái, vàng bạc, v.v… ở trong lầu Lộc Mẫu.

Thông suốt (PhậtDạy.4) là giác ngộ, là thấy biết pháp đó như thật. Thấy biết pháp đó như thật mới hướng tâm đến pháp đó mà trong kinh sách gọi là hướng lưu, nhưng khi tu tập có những kết quả nho nhỏ gọi là dự lưu.

Thông suốt giới luật (TâmThư.2) là phải thông suốt các pháp Yết Ma. Các pháp Yết Ma thông suốt là phải thông suốt nghi thức truyền giới, nghi thức thọ giới. Thông suốt nghi thức truyền giới, nghi thức thọ giới là phải thông suốt giới đàn và phải biết thành lập giới đàn. Lập giới đàn là phải biết sử dụng bao nhiêu người, và còn thông suốt pháp tác bạch các pháp Yết Ma. Có làm được như vậy mới gọi là một tu sĩ Phật giáo. Thông suốt giới luật là phải thông suốt giới đức, giới hạnh, giới hành. Thông suốt giới đức, giới hạnh, giới hành là phải thông suốt giáo trình, giáo án đức hạnh và pháp hành đức hạnh. Có như vậy mới biên soạn giáo án, đứng lớp dạy mọi người về đức hạnh giới luật. Nếu chưa thông suốt thì phải tu học và còn tu tập nhiều hơn nữa, nếu không chịu tu học thì chỉ là những tu sĩ mù, hình thức là tu sĩ bên ngoài, còn hiểu biết để điều hành của người tu sĩ thì chưa có gì cả. Các con mặc chiếc áo tu sĩ, nhưng chưa có hiểu biết các pháp Yết Ma, các giới luật đức hạnh. Không học hiểu các pháp Yết Ma nên giới luật thường vi phạm mà không biết. Giới luật vi phạm làm sao tu hành chứng đạt Tam Minh được. Hai mươi mấy năm, những tu sĩ các hệ phái Phật giáo về tu viện Chơn Như tu tập đều phạm giới tướng phòng hộ. Phần đông không hiểu giới tướng của các pháp Yết Ma. Còn nói đến giới thể thì các tu sĩ chưa có ai biết cả. Vì vậy dạy giữ giới hạnh độc cư thì lại phạm giới tướng độc cư. Không chịu đến lớp học, giáo án lớp NGŨ GIỚI, thì sau này biết đâu mà dạy lớp NGŨ GIỚI. Có học, có tu, có sống giới luật thì mới biên soạn giáo án dạy người tu tập giới đức, giới hạnh, giới hành, rồi sau đó mới biên soạn được. Ðây mới khởi sự bắt đầu vào giới tướng của các pháp Yết Ma. Có học mới biết, không học thì không thể biết, không biên soạn được những giáo án. Chương trình học có rất nhiều lớp cho những người xuất gia và tại gia. Nếu tự mãn cho mình tu học như vậy là đủ, khi đứng ra dạy cũng như làm Phật sự khác thì cũng giống như một người mù. Tu hành không chứng mà giới luật vi phạm thì có ich gì cho bản thân và những người khác.

Thờ cúng đúng chánh pháp (ĐườngVề.10) là thờ cúng đúng đạo nghĩa làm người. Thờ cúng đúng đạo nghĩa làm người tức là hành động cung kính tôn trọng tỏ lòng nhớ tưởng biết ơn của những người đã khuất bóng. Thờ cúng đúng chánh pháp là phải thờ cúng những nhân vật có thật, là những con người được sanh ra và lớn lên trên hành tinh này làm lợi ích cho gia đình, xã hội, tổ quốc và loài người, không được thờ cúng những nhân vật huyền thoại, những nhân vật tiểu thuyết, những nhân vật bịa đặt ra, những nhân vật giả tưởng không có thật. Thờ cúng đúng chánh pháp là thờ cúng trong tinh thần đạo lý, đạo nghĩa, ân đức và lòng hiếu sinh làm người thì không được giết hại sinh linh

Thờ cúng đúng đạo nghĩa làm người (ĐườngVề.10) tức là hành động cung kính tôn trọng tỏ lòng nhớ tưởng biết ơn của những người đã khuất bóng. Thờ cúng Tổ, Tiên, ông, bà, cha, mẹ là một hành động đạo nghĩa để tỏ lòng cung kính, tôn trọng nhớ tưởng đến ân đức, công lao khó nhọc của những người này đã gây dựng một gia đình êm ấm, một dòng họ tốt đẹp, một xã hội đoàn kết, một đất nước phồn vinh thịnh trị, đó là thờ cúng đúng chánh pháp. Còn nếu như thờ cúng Tổ, Tiên, Ông, Bà, Cha, Mẹ là để linh hồn của những người đã khuất bóng này về hưởng của dâng cúng hay về để phù hộ cho con cháu mạnh khỏe bình an thì đó là thờ cúng không đúng chánh pháp. Ðó là thờ cúng theo mê tín, lạc hậu. Thờ cúng đức Phật Thích Ca Mâu Ni là để tưởng nhớ công lao của Người, vì loài người Ngài đã tìm ra chân lý giúp con người thoát bốn sự đau khổ của kiếp làm người, đó là thờ cúng đúng chánh pháp. Còn thờ cúng Ngài để được Ngài phù hộ cho tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ thì đó là thờ cúng không đúng chánh pháp, thờ cúng như vậy là thờ cúng mê tín, lạc hậu.

Thời khóa biểu tu tập trong thời Ðức Phật (ThờiKhóaTu) chỉ định những pháp hành cụ thể rõ ràng đúng chánh pháp của Ðức Phật "ngăn ác diệt ác pháp" và nếu nói về thiền định thì "ly dục ly ác pháp".

Thời khóa trong tu viện (ThờiKhóaTu) đều dựa theo thời khóa của đức Phật, nên từ 5 giờ đến 7 giờ là thời khóa của đức Phật. Lúc gần sáng được phép nằm và hướng tâm đến thức dậy, mục đích giờ nằm này là thư giản.

Thời lai (ĐườngVề.4) tức là nhân quả tốt thiện.

Thời tu (ĐườngVề.10) câu hữu ba pháp môn trong một thời tu: 1/ Tỉnh thức (Thân Hành Niệm Nội và Ngoại, tức là Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh và Ðịnh Niệm Hơi Thở). 2/ Tứ Chánh Cần. 3/ Ðịnh Vô Lậu. Khi tu hành phải biết kết hợp chặt chẽ pháp này với pháp kia, lúc thì định tỉnh, lúc thì quán tư duy vô lậu, lúc thì ngăn diệt mạnh mẽ. Có tu tập đúng như vậy tâm mới nhu nhuyễn, dễ sử dụng. Phật pháp không thể tu riêng một pháp môn nào.


VIẾT TẮT CÁC SÁCH

(CầnBiết.1)=Người Phật Tử Cần Biết 1; (CầnBiết.2)=Người Phật Tử Cần Biết 2; (CầnBiết.3)=Người Phật Tử Cần Biết 3; (CầnBiết.4)=Người Phật Tử Cần Biết 4; (CầnBiết.5)=Người Phật Tử Cần Biết 5; (ChùaAm)=Lịch Sử Chùa Am; (CưSĩTu)=Những Chặng Đường Tu Học Của Người Cư Sĩ; (ĐạoĐức.1)=Đạo Đức Làm Người.1; (ĐạoĐức.2)=Đạo Đức Làm Người.2; (ĐườngRiêng)=Đạo Phật Có Đường Lối Riêng; (ĐườngVề.1)=Đường Về Xứ Phật 1; (ĐườngVề.10)=Đường Về Xứ Phật 10; (ĐườngVề.2)=Đường Về Xứ Phật 2; (ĐườngVề.3)=Đường Về Xứ Phật 3; (ĐườngVề.4)=Đường Về Xứ Phật 4; (ĐườngVề.5)=Đường Về Xứ Phật 5; (ĐườngVề.6)=Đường Về Xứ Phật 6; (ĐườngVề.7)=Đường Về Xứ Phật 7; (ĐườngVề.8)=Đường Về Xứ Phật 8; (ĐườngVề.9)=Đường Về Xứ Phật 9; (GiớiĐức.1)=Giới Đức Làm Người 1; (GiớiĐức.2)=Giới Đức Làm Người 2; (LinhHồn)=Linh Hồn Không Có ; (MuốnChứngĐạo)=Muốn Chứng Đạo Phải Tu Pháp Nào; (OaiNghi)=Hỏi Đáp Oai Nghi Chánh Hạnh; (PhậtDạy.1)=Những Lời Gốc Phật Dạy 1; (PhậtDạy.2)=Những Lời Gốc Phật Dạy 2; (PhậtDạy.3)=Những Lời Gốc Phật Dạy 3; (PhậtDạy.4)=Những Lời Gốc Phật Dạy 4; (TâmThư.1)=Những Bức Tâm Thư 1; (TâmThư.2)=Những Bức Tâm Thư 2; (TạoDuyên)=Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sanh; (TêNgưu)=Sống Một Mình Như Con Tê Ngưu Một Sừng; (ThanhQuy)=Thanh Quy Tu Viện Chơn Như; (ThiềnCănBản)=Thiền Căn Bản 1; (ThờiKhóa)=Thời Khóa Tu Tập; (TrợĐạo)=37 Phẩm Trợ Đạo; (TruyềnThống.1)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.1; (TruyềnThống.2)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.2; (YêuThương.1)=Lòng Yêu Thương 1; (YêuThương.2)=Lòng Yêu Thương 2; (10Lành)=Hành Thập Thiện; (10Lành)=Sống 10 Điều Lành; (12Duyên)=12 Cửa Vào Đạo; (3Quy5Giới)=Tam Quy Ngủ Giới; (4BấtHoại)=Tứ Bất Hoại Tịnh; (8QuanTrai)=Nghi thức thọ bát quan trai.

Đang có 28 khách và không thành viên đang online

Lượt xem
450
Các bài viết
1441
Số lần xem các bài viết
7799014