• vandaptusinh
  • chanhungphatgiao
  • ttl1
  • amthat1
  • tinhtoa2
  • thanhanhniem2
  • benthayhocdao
  • khatthuc1
  • quetsan
  • phattuvandao1
  • lailamtoduong1
  • lopbatchanhdao
  • tranhducphat
  • ThayTL
  • huongdantusinh
  • toduongtuyetson
  • ttl3
  • phattuvandao3
  • tamthuphattu
  • tinhtoa1
  • vandao2
  • daytusi
  • thanhanhniem1
  • amthat3
  • amthat2
  • thanhanhniem3
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Thầy Thông Lạc
  • Am thất
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
JGLOBAL_PRINT

TU THIỀN GIAI ĐOẠN I

COM_CONTENT_ARTICLE_HITS

(Trưởng lão Thích Thông Lạc, trích Thiền Căn Bản, TG. 2008, tỳ khưu Từ Quang tổng hợp và sắp xếp lại các đề mục)
link sách: Thiền Căn Bản

SƠ ĐỒ ĐƯỜNG LỐI TU TẬP THIỀN ĐỊNH

Trong bài giảng vừa rồi, Thầy có dạy các con hãy tự hệ thống điều kiện tu học, từ dễ đến khó, từ bắt đầu đến cuối cùng, từ sự tu phụ đến sự tu chánh, đâu đó phải rõ ràng. Nhưng Thầy nghĩ rằng phải giúp đỡ các con, chớ không thể để các con tự hệ thống hoàn chỉnh được vì còn những điều chưa giảng dạy thì làm sao các con tự hệ thống được? Bây giờ Thầy sẽ giúp bằng cách giảng rõ Sơ Ðồ Ðường Lối Tu Tập Thiền Định.

Phần chính thì các con cần học và cần tu tập, còn những phần chi tiết thêm thắt vào thì các con phải chịu khó động não, thiết lập chương trình tu hành cho phù hợp với cơ thể và tinh thần của các con; tức là tùy căn cơ của các con.

Trong các vị sáng lập ra các tôn giáo, đức Phật là một người Thầy duy nhất không theo đuổi một cái gì khác ngoài việc trở thành con người trong sạch và giản dị. Ðức Phật không xem mình là một vị Thần Thánh, hay Thượng Ðế. Ðức Phật lúc nào cũng chỉ coi mình là một con người như bao nhiêu con người khác. Trong 10 hiệu người đời xưng tụng Ngài, không có hiệu nào là Thần Thánh cả. Ví dụ như Sư có nghĩa là người Thầy; Phật có nghĩa là người giác ngộ lý chân thật ở đời, còn tất cả các hiệu khác chỉ cho những đức hạnh mà thôi. Vì thế chúng ta chọn đạo Phật là chọn sự thật của kiếp người, dù cho khó khăn đến đâu, chúng ta cũng quyết tâm theo đuổi đến cùng. Bởi tu theo Ðạo Phật là phải có một công phu tu tập vĩ đại, nhưng rất gần gũi với cuộc sống làm người. Chỉ cần người tu phải biết tự răn mình, tự sửa lỗi mình để trở thành một con người trong sạch và sống giản dị. Trong sạch ở đây có nghĩa là không làm khổ mình khổ người. Sự tu hành nầy không những chỉ có đổi bằng sức lực và tinh thần, mà còn phải đổi bằng máu và nước mắt của chúng ta nữa. Tu tập theo đạo Phật, nếu không “trui” mình trong lửa đỏ, thì sự tu hành cũng chỉ là hình thức suông mà thôi.

Các con được về đây tu tập với Thầy có sự trợ giúp của Cô út Diệu Quang trong việc chỉ thẳng đập mạnh những chỗ sai của các con, không nhân nhượng một ai. Chỉ mong sao các con xa lìa bản ngã ác pháp và tâm ham muốn để có một tâm hồn an vui, thanh thản và vô sự, để đi vào thiền định một cách vững chắc không còn rơi vào tà thiền, tưởng định. Thế nên hôm nay các con mới nhận ra đường lối tu hành của đạo Phật vô cùng khó khăn, mà trước kia các con không ngờ, tưởng là gõ mõ tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật, v.v... Còn bây giờ thì các con biết không phải tu là như vậy, mà phải học hiểu rồi áp dụng liền ngay trong cuộc sống của mình những điều vừa hiểu, tập sửa từ những hành động thân, miệng, ý để thân, miệng, ý không còn tạo ra ác pháp và các lỗi lầm, áp dụng rồi học tiếp. Học, tu và sống không còn có giờ phút nào rảnh rỗi. “Học bằng cách sống, sống bằng cách tu”. Tu bằng học, học bằng sự sống, sống qua sự triển khai trí tuệ thông minh của mình. Thầy chỉ giảng trạch, an ủi, sách tấn, khích lệ, khuyên bảo, v.v… Cho nên tu hành không giản dị như người ta tưởng. Nếu các con để ý một chút sẽ thấy Thầy dạy một cách thiết thực, cụ thể con đường giải thoát của đạo Phật. Các con càng suy ngẫm càng thấm thía cuộc đời do chính mình lầm lạc, tạo ra lắm điều cay đắng khổ đau cho mình. Chừng đó mới biết được mình và hiểu được người rõ hơn.

Khi các con đã quyết tâm tu hành, không sợ gian nan, khó khổ thì không những Thầy sẵn lòng giúp đỡ, chỉ dạy tận tình mà còn đem hết lòng thương yêu vì con đường tu hành khó khăn vô cùng, để cùng nhau cùng sống, cùng xây dựng lại ngôi nhà Phật pháp.

12 ĐIỀU QUAN TRONG CẦN GHI NHỚ ÐỂ LY DỤC LY BẤT THIỆN PHÁP

Sau đây là những điều quan trọng mà quý phật tử cần ghi nhớ trong khi tu tập Thiền Ðịnh ở Giai-Ðoạn I.

1. Thường tu tập tỉnh giác trong mọi hành động của thân, khẩu, ý.

2. Thường tu tập cẩn thận, từ việc làm việc nhỏ nhất, đến việc làm lớn nhất. Phải dè dặt, kỹ lưỡng.

3. Thường ý tứ trong mọi hành động thân, khẩu, ý trong thiện pháp và tránh ác pháp.

4. Thường tu tập, bảo vệ và giữ gìn tâm mình thanh thản, an lạc và vô sự để được sáng suốt bình tĩnh và đẩy lùi các chướng ngại pháp.

5. Thường tu tập nghị lực để chiến đấu với tâm mình, ly ngã, ly dục, ly bất thiện pháp, trước mọi nghịch cảnh tức là ác pháp.

6. Phải tỏ lòng tôn kính, cầu xin thiện hữu tri thức thân cận của mình để được nghe những lời chỉ thẳng, vạch trần những lỗi lầm, những chỗ tu sai lạc để xả ngã và ác pháp để tu tập lại cho đúng.

7. Khi thiện hữu tri thức bảo làm gì thì phải làm đúng, không nên làm sai. Ðó là tu tập đức tùy thuận ở người, làm sai lời dạy là tùy thuận ở mình.

8. Khi người thiện hữu tri thức nói oan ức và mắng chửi mình là để mình tu tập đức Nhẫn nhục.

9. Khi người thiện hữu tri thức nói trái ý mình là để dạy mình tu tập đức Bằng lòng.

10. Khi người thiện hữu tri thức chê mình là để mình rèn luyện cách thức xả ngã ác pháp.

11. Khi người thiện hữu tri thức khen mình là để xem mình xả ngã ác pháp được chưa?

12. Khi người thiện hữu tri thức bảo mình phải tự tìm cách xả tâm, ly dục, ly ác pháp, không được học thuộc lòng. Ðó là chỉ cho mình động não, khai triển trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.

Trong 12 điều trên đây, quý phật tử cần phải ghi nhớ cho kỹ. Những gì chưa hiểu, phải thưa hỏi thêm để biết cách tu tập xả tâm cho đúng.

Rút tỉa ưu khuyết một năm tu tập đã qua, quý phật tử đã có nhiều kinh nghiệm hơn. Bước sang năm mới, quý phật tử hãy chuẩn bị tinh thần dõng mãnh, nghị lực kiên cường để luôn luôn chiến đấu trong mặt trận sinh tử ly dục, ly bất thiện pháp; để đem lại một tâm hồn thanh thản, yên vui và vô sự; để đem lại kết quả một năm sắp tới tốt đẹp hơn, để thực hiện bước sang qua giai đoạn tu học cao hơn. Ðó là thực hiện được mục đích làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sinh luân hồi.

Cố gắng hỡi quý phật tử! Các con hãy cố gắng lên! Phần thưởng chiến thắng danh dự cho những ai biết cố gắng đang chờ đón ở phía trước.

Vậy ở đây chiến thắng cái gì? Không phải chiến thắng để có thần thông phép tắc quý phật tử ạ! Không phải ở chỗ ngồi thiền bảy tám ngày quý phật tử ạ! Không phải ở chỗ nhất tâm bất loạn, mà ở chỗ tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ.

Ðừng thấy những thất bại đã qua mà hối tiếc. Hãy nhìn hiện tại và vị lai mà tiến bước tu tập. Có quyết tâm, phải có thành công. Sự tu tập không khó, nhưng khó vì không có quyết tâm, thiếu ý chí và nghị lực dũng mãnh.

Những lời sách tấn này, quý phật tử phải nhớ mãi trên bước đường tu tập thiền định. Các con đừng ngại khó khăn, vì bên cạnh các con đã có Thầy. Ðường đi khó là vì chưa biết đường. Nhưng khi đã biết đường, thì dù đường đi có khó đến đâu cũng đi đến đích. Mạnh dạn tiến lên hỡi quý phật tử để chấm dứt sanh tử luân hồi muôn đời. Ðừng để thân tâm nầy trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, tiếp diễn mãi đau khổ muôn kiếp.

Sau khi nghe lời Thầy giảng trạch tu chỗ tu sai, quý phật tử đã hiểu rõ rồi, và đã nhận ra, bây giờ quý phật tử cố gắng suy tư, động não, tìm hiểu chỗ sai của mình, để tu sửa lại, để được giải thoát, để được tu tập lớp cao hơn. Thầy sẽ bắt đầu giảng trạch bổ túc thêm những điều các con đang tu tập dở dang.

Hôm nay bắt đầu cho một năm tu tập mới. Thầy xin nhắc lại: Trên con đường tu tập theo đạo Phật, có ba giai đoạn tu Thiền định:

1/ LY: có nghiã là rời xa, lìa xa, cách xa.

2/ DIỆT: có nghiã là đóng lại, làm cho ngưng hoạt động, làm cho dừng lại.

3/ XẢ: có nghiã là bỏ ra, ném ra, không cần dùng nữa, không còn trở lại thói quen tật cũ tức là nghiệp cũ.

Giai đoạn thứ nhất trong một năm tu tập, các con chỉ có tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Thế nhưng các con đã lầm lẫn nên chỉ tu tập diệt và xả. Vì thế sự tu tập của các con trở thành mù mờ, nên không biết tu cái nào chánh, cái nào phụ. Cái chính là ly dục, ly bất thiện pháp; tức là tu tập ba đức, ba hạnh. Còn cái tu phụ là nhiếp tâm trong hơi thở, nó chỉ phụ trợ cho sự tu tập LY mà thôi. Các con đã lầm nên lấy cái tu chính làm cái tu phụ; còn cái tu phụ làm cái tu chính. Vì thế, khi thi các con đều thi rớt hết là phải. Qua một năm tu tập, các con có nhiều kinh nghiệm cho cuộc tuyển thi tới. Nhờ cuộc tuyển thi vừa qua các con mới nhận ra cái tu sai của các con.

TU THIN GIAI ĐON I

Bây giờ Thầy sẽ giảng trạch giai đoạn thứ nhất là LY để các con hiểu đúng cách. Xưa Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tu ở giai đoạn này sáu năm khổ hạnh mới ly dục. Còn ở giai đoạn II, III, Thầy không giảng, vì nếu giảng thì các con sẽ hiểu lộn xộn, rồi không biết lớp lang tu tập. Chờ khi nào các con tu tập xong giai đoạn I, Thầy sẽ giảng giai đoạn II. Tu xong giai đoạn II, Thầy sẽ giảng tiếp giai đoạn III.

Các con tu tập ở Giai đoạn I tu thiền, phải sống đúng ba Đức, ba Hạnh. Ba đức là: Nhẫn Nhục, Tùy Thuận, Bằng Lòng. Ba hạnh là: Ăn, Ngủ, Ðộc Cư. Ðây là phương pháp tu tập ly dục, ly bất thiện pháp.

PHẦN I: LY DỤC

Ly dục là xa, rời lòng ham muốn của mình. Muốn lìa xa lòng ham muốn thì các con phải tìm xem đối tượng của lòng ham muốn là gì. Trong đời sống hàng ngày của con người có năm đối tượng dục lạc khiến sanh tâm ham muốn. Ðó là: ăn, ngủ, sắc dục, danh, lợi. Muốn lìa các thứ dục nầy các con phải tu tập ba hạnh: ăn, ngủ, độc cư. Các con cần phải hiểu rõ cái lợi và cái hại của ăn, ngủ, độc cư như thế nào?.

1.- HẠNH ĂN

Hạnh ăn uống là một phương tiện để tu tập ly dục về ăn uống. Người đời thường nói “ham ăn, hốt uống” là để chỉ cho những hạng người xấu ham ăn, ham uống. Chúng ta là những người tu tập hạnh giải thoát mà chưa giải thoát được cái ăn thì còn giải thoát được cái gì? Vậy, chúng ta phải tập ăn ngày một bữa để nuôi sống thân chúng ta mà thôi. Không được ăn uống lặt vặt, không được ăn uống phi thời, không được chạy theo dục lạc về ăn uống. Phải luôn luôn cố gắng khắc phục trong ăn uống, ăn uống không khắc phục được thì còn khắc phục được cái gì.

Phật không dạy chúng ta tuyệt thực hay tiết thực (ăn quá ít) như ngoại đạo đã dạy, hoặc dạy chúng ta ăn uống phi thời, Ðức Phật dạy: “Thừa tự pháp không nên thừa tự thực phẩm”. Xưa kia Ngài đã tu khổ hạnh, tiết thực ăn uống quá ít, thấy cơ thể hao mòn, tinh thần không còn sáng suốt nên Ngài bỏ. Ðó là tu sai, không tìm được giải thoát. Cho nên Ngài quyết định ăn ngày một bữa cho đủ sống, để cơ thể khoẻ mạnh mà tu tập.

Chỉ ăn ngày một bữa mà đức Phật vẫn khoẻ mạnh và sống đến 80 tuổi mới chết. Chúng ta bây giờ cũng vậy, ăn mỗi ngày một bữa mà vẫn khoẻ mạnh. Trong những ngày lao động quý Phật tử cũng vẫn tham gia lao động mà cơ thể vẫn bình thường. Các con cần xét kỹ dục ăn uống, rất là quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Người ngoài đời vì ăn uống mà sinh tâm tham lam nên người ta xâu xé lẫn nhau, giết hại nhau, chà đạp lên nhau không chút lòng xót thương, so sánh với loài vật thì chúng ta cũng không khác. Phải không các con?

Vì ăn uống mà người ta nghèo đói, khổ sở, nợ nần; vì ăn uống mà người ta làm đủ điều gian lận, mánh khoé. Vì ăn uống mà sản nghiệp tiêu tan; vì ăn uống mà cốt nhục tương tàn; vì ăn uống mà phải dầm sương, dãi nắng, chạy xuôi, chạy ngược, buôn tảo, bán tần. Quý phật tử có thấy không?

Cái dục về ăn uống đối với đời người nó mang đến sự khổ đau biết là dường nào! Vậy từ đây về sau, quý phật tử phải dùng nghị lực dũng mãnh chống lại cái dục về ăn uống. Chỉ ăn ngày một bữa mà thôi, ngon dở nguội lạnh không màng. Chỉ cần giải quyết nghiệp đói của thân là đủ lắm rồi, đủ để thân yên ổn, thanh tịnh, tu tập thiền định, giải quyết luân hồi sanh tử. Ðừng nghĩ rằng nay đòi ăn thứ này, maiđòi ăn thứ kia. Người tu hành ai cho gì ăn nấy, ngon cũng ăn, dở cũng ăn, không khen, không chê, không ham, không thích, chỉ ăn đủ no lòng mà thôi. Ðừng sanh tâm lý luận “ăn như vậy thiếu chất bổ”. Ðó là cái lý luận để chạy theo ăn uống.

Quý phật tử phải hiểu thân là một khối bất tịnh do các duyên hợp lại mà thành, nên không có cái gì trong thân là ta, là của ta, là bản ngã của ta, nó không thường hằng bất biến, nó vô thường, nó thay đổi, nên luôn luôn đau khổ, phiền lụy. Vậy mà muôn đời người ta lầm chấp thân này là bản ngã chân thật của mình. Lại có một số người cho rằng trong cái khối này có cái “Bản thể Chân như Phật tánh” của mình. Chính vì cái lầm chấp đó nên luôn luôn lo bảo vệ và giữ gìn không cho ai chạm đến. Vì thế mà “duyên sanh” sanh ra muôn ngàn thứ đau khổ, phiền lụy và luôn luôn tranh đấu để bảo vệ nó. Quý phật tử cũng vậy, cũng lầm chấp như bao nhiêu người khác. Ngày nào các duyên tan rã thì ô hô! Còn lại cái gì là của các con đâu nữa? Chết chỉ còn một khối nghiệp lực nhân quả, thiện ác tiếp tục tái sanh mà quý phật tử đã lầm chấp trong suốt cuộc đời của mình, cho nó là linh hồn thần thức, Phật tánh, Bản lai, v.v...

Sự tiếp diễn luân hồi này mãi mãi muôn đời muôn kiếp để trả vay vay trả, không bao giờ tàn phai. Quý phật tử nên biết rằng trong cuộc đời nầy không có một sự việc gì xảy ra mà ngẫu nhiên cả. Tất cả đều có nguyên nhân, đều có lý do. Ðó là nhân quả, các con có biết không? Không phải như các nhà Nho ngày xưa và có một số người ngày nay bài bác lý nhân quả. Họ cho rằng tất cả đều là ngẫu nhiên. Họ còn cho thí dụ là những chiếc lá vàng ở trên cây kia vô tình (do ngẫu nhiên đưa đẩy), gió thổi bay đi, cái lá rơi xuống đất, cái xuôi dòng nước, cái rơi xuống bùn. Ðời sống nghèo đói, giàu sang của con người cũng như vậy.

Thực ra gió nào có phải là ngẫu nhiên; mà chính là do nhân duyên mặt trời nung đốt không khí. Không khí bị cháy, bốc lên cao, trống đi một khoảng, không khí các chỗ khác ập vào, lấp vô chỗ trống đó, tạo thành cơn gió, cơn bão. Sự nghèo đói và giàu sang của chúng ta không thể do ngẫu nhiên mà có được. Hỏa hoạn, thủy tai, giặc giã cướp mất sự giàu sang, để lại sự nghèo đói cho muôn người. Ðây là những cận duyên trong hiện kiếp. Còn những duyên sâu xa trong nhiều kiếp quá khứ nữa. Duyên nhân quả khởi trùng trùng tạo thành khối nghiệp nhân quả đi luân hồi sanh tử bất tận.

Ðức Phật trong bài thuyết pháp Mười Hai Nhân Duyên đã chỉ rõ kiếp sống của một con người từ khi sanh ra, lớn lên cho đến khi tan rã. Chỉ là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Không có gì tồn tại ngoài 12 Nhân Duyên này tiếp diễn nối nhau mãi trong lộ trình nhân quả (Thầy sẽ giảng rõ hơn về 12 Nhân Duyên vào một dịp khác). Thế nên, cuộc đời con người chẳng qua chỉ là một khối nhân duyên Vô Minh nhân quả trả vay, vay trả triền miên, cùng với duyên tan hợp mà thôi.

Cho nên trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái luyến ái, gắn bó hoặc đau khổ, phân ly cũng là do nợ nần muôn đời muôn kiếp trong nghiệp lực nhân quả. Có gì đâu mà thương nhớ, tiếc mong. Bỏ xuống đi, hãy bỏ xuống đi! Ðời chẳng có gì đáng cho ta lưu luyến cả.

Quyết một đời tu tập không lui,
Giữ thân tâm thanh thản an vui.
Nhập Thiền Ðịnh xa lìa nhân quả,
Ðạo quả viên thành, độ chúng vui”.

Bây giờ các con đã thấu rõ được hạnh ăn uống là đối tượng để diệt ngã ác pháp. Từ nay về sau, các con cố gắng khắc phục nó để mỗi ngày ăn một bữa, đủ sống mà thôi, đừng bắt chước các vị thầy khác về ăn uống khiến con đường tu hành không đúng Ðạo Phật, nhưng cũng không nên ăn quá ít, hoặc ăn quá nhiều. Ăn quá ít là tiết thực, điều nầy tai hại cho sự tu tập vì sức khỏe yếu kém. Ăn nhiều là dư thừa, sanh dục, ham ngủ, mê muội, cũng hại cho đường tu. Phải sáng suốt, linh động.

Ăn đúng cách là tu. Tu đúng cách là làm chủ cái ăn. Ðừng bắt chước những người khác mà ăn ít (vì bản chất người ấy không ăn nhiều được), và cũng đừng ráng ăn nhiều (vì sợ đói). Phải tùy ở thể tạng của mình, và phải làm chủ mình trong khi tu hạnh ăn uống.

2.- HẠNH NGỦ

Ngủ cũng là một đối tượng để chúng ta tu tập lập hạnh ngủ ly dục, mê muội. Ngủ là một nghiệp dục nặng của thân. Nếu không ngủ sẽ sanh ra bệnh, rồi chết; cũng như ăn vậy. Ngủ là một thói quen của nghiệp lực. Nó sanh ra vô minh, lười biếng, khiến cho thân tâm uể oải, bần thần, mỏi mệt, dã dượi. Thiếu ngủ con người thiếu nghị lực, không còn siêng năng, tinh tấn, làm việc, hay tu tập, học hành. Ngủ nhiều, người sinh đần độn ngu si, không thông minh, không bao giờ làm việc lớn, thường sống trong cảnh nghèo đói.

Ngủ là một dục lạc trong năm thứ dục lạc của thế gian, khiến người ta rất thích thú ham mê. Khi không ngủ là họ quá sợ, nhưng khi ngủ nhiều thì lại ám độn, mê muội. Người tu hành cần phải khắc phục nó, chiến đấu trường kỳ với nó. Ngủ nhiều khiến chúng ta không tỉnh táo để phán xét mọi việc đúng sai, thiện ác trên bước đường ly dục, ly bất thiện pháp. Chính nó khiến tâm ta không tỉnh giác, nên tâm thường ở trong tà niệm, sanh ra nhiều duyên làm đau khổ cho mình, cho người; chính nó khiến ta làm càng làm bậy, thiếu suy tư, thiếu cẩn thận, nên thường mắc phải lỗi lầm; chính nó khiến cho tâm ta mù mờ, không thanh thản, an lạc và vô sự, vì thế sanh ra loạn tưởng, trạo hối; chính nó khiến tâm ta mất bình tĩnh, thiếu sáng suốt, vì thế dễ sinh ra hờn giận, đau khổ, nghi nan, phiền toái; chính nó khiến cho tâm ta mù mờ, không thấu rõ các ác pháp; chính nó khiến cho tâm ta rơi vào năm loại vô ký:

1. Vô ký hôn trầm.

2. Vô ký thùy miên.

3. Vô ký mộng tưởng.

4. Vô ký hôn tịch.

5. Vô ký ngoan không.

Chính nó lặng đi, khiến ta tọa thiền mất tự chủ, thân nhúc nhích rung động, làm cho thân không bất động, khó nhập chánh định, rơi vào tà định.

Những điều Thầy nêu ở trên đây cho thấy ngủ tai hại đến sự tu tập biết là dường nào! Ðã biết rõ nó, quý phật tử phải cố gắng tu tập khắc phục cho được bằng:

1. Ði kinh hành nhiều.

2. Vừa đi kinh hành, vừa hướng dẫn tâm theo bước chân đi.

3. Thường xuyên nhắc tâm tỉnh thức theo hành động của thân mà đức Phật gọi là Thân Hành Niệm.

4. Thường xuyên hướng tâm như lý tác ý, nhắc tâm chớ ham ngủ.

Khi gặp hôn trầm thùy miên nặng thì phải cố gắng bằng mọi cách phá trừ cho được như:

  • Lấy kinh sách ra nghiên cứu về một điều gì để động não thì mới phá được ngủ.
  • Phải làm một việc gì để động thân.
  • Không được ngồi hoặc nằm yên một chỗ.
  • Chạy bộ, hoặc đi tắm.
  • Phải tập thể dục, tập vài thế dưỡng sinh, hoặc đi một bài quyền (võ thuật)
  • Cử tạ, đào đất

Các con nên nhớ kỹ: “ngủ là một thứ dục lạc rất khó trị. Thế nên luôn luôn lúc nào cũng đề cao cảnh giác, chiến đấu với nó bằng tất cả nghị lực của mình. Nếu các con không chiến đấu hết sức, chừng đó ngủ sẽ thành thói quen lười biếng, các con sẽ thất bại ê chề trong cuộc đời tu hành”. Biết bao nhiêu người tu hành đã qua, cũng vì nó mà tu hành chẳng tới đâu. Các con nên nhớ ngủ là một thứ dục lạc trong thân nên phải thường xuyên đi kinh hành, và siêng năng hướng tâm như lý tác ý tỉnh táo mới ly ngủ được. Phải trường kỳ tranh đấu với nó. Ðến khi nhập định xả bỏ thân tâm, mới hết ngủ.

ĂN cũng vậy, phải nhập định xả bỏ thân tâm, mới hết ăn. Hai thứ dục lạc này là cội gốc, mầm sống của thân; nếu không ngủ, không ăn thì thân phải chết. Còn ba thứ dục lạc kia (sắc dục, danh, lợi) là cội gốc của tâm nên chúng ta tu tập dễ ly hơn. Xa lìa ăn ngủ nghiêm chỉnh, là xa lìa được năm thứ dục lạc. Phải khéo léo, linh động, tùy theo sức mình, tu tập dần dần lên. Không được ép chế không ngủ. Ngủ phải đúng giờ khắc, ngủ phải có tập luyện hướng tâm ngủ. Không được muốn ngủ hồi nào là ngủ, muốn tu hồi nào là tu. Ngủ đúng cách là tu tập đúng, ngủ không đúng cách là tu tập sai, cho nên tu tập đúng cách là làm chủ ngủ. Hành động ngủ đúng cách là tu tức là tỉnh thức, hành động tu là ngủ tức là ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp tức là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là định.

3.- HẠNH ĐỘC CƯ

Ðây là hạnh khó tu tập nhất trong ba hạnh ăn, ngủ, độc cư. Nghe nói đến độc cư thì dễ, mà thực hành sống độc cư thì khó khăn vô cùng. Ðộc cư là một phương tiện tu tập để bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn, hộ trì, ngăn ngừa, che chở bảo vệ sáu căn tức là bảo vệ thân tâm được an ổn, tránh các duyên bên ngoài, khiến cho tâm và cảnh an ổn yên vui để tu tập dễ dàng hơn. Ðộc cư còn giúp cho tâm các con có dịp tuôn tràn bao nhiêu những ký ức, những kỷ niệm khó quên. Ðộc cư cũng là dịp giúp cho các con nhận ra được dục lạc ham ngủ, ham vui là tai hại trên đường tu tập. Ðộc cư là đối tượng để các con dùng mọi phương tiện tu tập thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực.

Người không sống trong hạnh độc cư được là người hay phân tâm. Người phân tâm là người không có sức tỉnh thức cao, không có sức tập trung mạnh, chỉ có ức chế tâm bằng tưởng pháp. Người thích quay ra ngoài thường rất sợ cô đơn, tâm thường bị phân tán theo các duyên. Tâm chúng ta có, vốn từ nhân quả mà ra, nên thường bị các duyên nhân quả chi phối. Vì thế tâm lúc nào cũng bị phân chia tan nát, không hợp nhất lại được. Chỉ một vài giây hợp lại là bị phân ra liền theo các duyên trong ba thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai. Từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm kia, tâm chúng ta luôn luôn bị phân tán liên tục cho đến khi nằm xuống lòng đất. Mục đích của người tu thiền là gom tâm lại, dù là thiền dưới bất cứ hình thức nào, chỉ trừ loại thiền do các nhà học giả sản xuất ra dùng để ức chế tâm. Bởi thế người tu thiền mà không sống trong rừng núi thanh vắng, độc cư thì không làm sao nhập định được. Tại sao vậy? Ðó là vì do 4 lý do sau đây:

1. Tâm phân tán.

2. Tâm không thành khối.

3. Tâm không có nội lực.

4. Tâm không tỉnh thức

Muốn cho tâm thành khối, có nội lực dũng mãnh, để đóng mở sáu căn và tiến vào giai đoạn II của thiền định là DIỆT thì phải sống độc cư một trăm phần trăm.

Muốn tu hạnh sống độc cư phải tu tập ba giai đoạn:

1. Tập sống ít nói chuyện, chuyện gì đáng mới nói.

2. Tập sống riêng, làm việc riêng một mình.

3. Tập sống, không làm việc.

TẬP SỐNG ÍT NÓI CHUYỆN: Các con phải biết lựa chọn cái gì cần thiết mới nói, mới thưa hỏi; không cần thiết thì không được nói, không được thưa hỏi. Duy nhất chỉ thưa hỏi về chuyện tu tập, và phải thưa hỏi riêng, không phải hỏi trước đại chúng vì hỏi như thế các con sẽ bị phân tán tâm lo ngại, khó tập trung. Phải hỏi thiện tri thức để chỉ cho rõ, hành cho đúng. Ngoài ra, những chuyện khác phải cẩn thận khi muốn nói ra. Không được hỏi linh tinh. Có hai mươi điều để giữ gìn im lặng (Tránh Tiếp Duyên)

1. Tránh nói chuyện tào lao, nhảm nhí.

2. Tránh kết tình nghĩa, kết bạn bè thân.

3.Tránh nghe chuyện người khác, vì chuyện người khác khiến tâm ta bị động, bất an, thường sanh ra nhiều chuyện và phải nói ra.

4.Tránh gặp nhau, vì gặp nhau dễ sanh nói chuyện. Nếu có gặp nhau thì không nói chuyện là tốt nhất.

5. Không nên đem sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm về tu hành của mình đi dạy người khác khi mình tu chưa xong, tức là bị tâm tham danh khoe khoang.

6. Thấy bạn mình tu sai, không được đến dạy bảo, mà phải báo cho thiện tri thức chỉ dạy người ấy, vì đến dạy bảo làm động mình, động người và thành quen thuộc với nhau, nên không giữ hạnh độc cư được..

7. Thấy bạn đồng tu buồn khổ, không được đến an ủi, chia xẻ. Chỉ cần báo thiện tri thức giúp là đủ.

8. Tránh đổ lỗi người khác, vì như thế sẽ tạo duyên bất an trong tâm, gây nên cãi cọ, tranh tụng.

9. Tránh đi đến thất của người khác vì như thế là làm động mình, và làm động tâm người.

10. Làm lao động chung, tránh nói chuyện cười đùa.

11. Khi giúp bạn đồng tu đang bệnh, tránh nói chuyện ngoài vấn đề thăm bệnh. Tốt hơn hết là chỉ hỏi thăm bệnh để dùng phương tiện trị liệu.

12. Khi làm việc chung với người khác nên tùy thuận để tránh cãi cọ, đổ thừa.

13. Thường tập sống thơ thẩn một mình để đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm.

14. Luôn giữ tâm thanh thản, an lạc và hướng tâm đến thanh thản, an lạc.

15. Thường giữ tâm vô sự, và hướng tâm đến vô sự.

16. Thường tránh xa các duyên để giữ tâm không bị phân tán.

17. Không nên đem tâm sự của mình nói cùng ai, ngoài người thiện hữu tri thức của mình.

18. Thấy việc làm nặng nhọc, cùng nhau chia xẻ làm, nhưng không được nói chuyện.

19. Thấy ai làm chưa xong, cùng làm phụ, nhưng không nói chuyện.

20. Thường sống im lặng trong và ngoài tâm, và hướng tâm đến sự im lặng.

Quý phật tử phải ghi nhớ 20 điều kể trên để giữ tâm im lặng. Tốt nhất là tránh xa, tránh xảy ra các duyên, tránh tạo các duyên mới để tâm không bị phân tán. Càng tiếp duyên thì càng tạo hoàn cảnh bất an, tâm bị phân chia, khó tu thành khối nội lực, và tu tập sẽ dậm chân tại chỗ, không tiến bộ được. Cố tránh duyên thì hoàn cảnh mới thuận tiện, yên vui tu hành.

Các con nên nhớ độc cư ở giai đoạn I là Tịnh Khẩu. Tịnh khẩu là nói lời thanh tịnh, không nói lời bất tịnh. Tịnh khẩu là nói lời thiện, tức là nói lời làm vui lòng mình và vui lòng người. Nói lời bất tịnh là nói lời ác, làm đau khổ mình và đau khổ người. Tịnh khẩu là nói lời thiện, chứ không có nghĩa là á khẩu, vì á khẩu là câm, không nói được. Thế nên, các con phải cẩn thận, kẻo rơi vào tu hình thức, ít nói mà thành nói rất nhiều. Chuyện gì cũng nói, khi tâm bung ra, phân tán nói thôi không hết, như nước vỡ bờ.

Hạnh độc cư khó lắm. Nó là bí quyết thành công của thiền định. Nó có ba nhiệm vụ:

1- Bảo vệ tâm tránh các duyên.

2- Gom tâm hợp nhất thành khối.

3- Làm cho tâm tuôn tràn ra hết.

Sáu năm trời tu khổ hạnh của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là sáu năm tu ly dục. Nhờ đó Ðức Phật tránh được các duyên, thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực. Khi tâm đã thành khối có nội lực, Ðức Phật đã xả bỏ khổ hạnh tối đa, vì khổ hạnh chỉ làm hại cho sức khỏe, chỉ giữ lại đời sống bình thường của một tu sĩ đi khất thực ăn ngày một bữa và chỉ khác năm anh em ông Kiều Trần Như, là Ngài đã nhận thêm sữa do cô bé chăn dê cúng dường. Trong 49 ngày dưới cội bồ đề, Ðức Phật dùng nội lực nơi tâm đã có, đem ra chiến đấu với nội tâm mình để ly dục ly bất thiện pháp. Lúc bấy giờ đức Phật gọi là hàng phục Ma Vương, kế đó đức Phật diệt tầm tứ, đóng mở sáu căn, nhập Nhị Thiền. Sau khi nhập Nhị Thiền xong Ngài loại trừ tưởng thức nhập Tam Thiền. Sau khi nhập Tam Thiền xong Ngài dừng các hành trong thân, nhập Tứ Thiền. Nhập Tứ Thiền xong Ngài dẫn tâm đến Tam Minh, thành tựu giải thoát.

Tóm lại, ly dục là lìa xa ý muốn của mình. Nghe nói ly dục thì rất dễ dàng, mà lìa xa ý muốn của mình thì khó vô cùng. Bậc thánh như đức Khổng Phu Tử đến 70 tuổi mới dám tuyên bố: “Ta đến tuổi nầy mới làm theo ý muốn của mọi người”. Nghĩa là đến 70 tuổi, Ông mới ly dục và ác pháp nơi tâm Ông. Theo Thầy nghĩ, muốn ly dục lìa ác pháp thì ít ra phải ba năm rèn luyện. Còn tu lơ mơ thì 30 năm cũng chưa chắc đã làm được. Cái ý muốn của mình là cái gì? Là Bản Ngã Ác Pháp. Bản ngã ác pháp không ly thì làm sao có Niết Bàn? Vô Ngã ác pháp là Niết Bàn, chứ không phải vô ngã là Niết Bàn, vì vô ngã cả ác lẫn thiện là cây đá.

Ði tu cũng như đi học. Người ngoài đời, nếu học không đến nơi đến chốn thì chẳng có ích lợi gì cho mình mà còn là gánh nặng cho xã hội. Người tu cũng vậy, tu không đến nơi, đến chốn sẽ làm bại hoại tôn giáo, như hiện giờ chúng ta thấy phần đông tu sĩ Phật giáo tu không đến nơi đến chốn làm hư hoại Phật giáo. Người tu đến nơi đến chốn làm sáng tỏ Phật Pháp qua gương hạnh sống của mình, khiến cho mọi người quy ngưỡng và tôn kính Phật Pháp. Chúng ta quyết chọn con đường tu, thì phải tu cho đến nơi đến chốn. Người tu lừng chừng không có ích cho mình, cho người mà còn có hại cho tôn giáo. Ðức Phật dạy: “Tu là phải lìa xa ý muốn của mình”. Tu là quyết tâm buông bỏ để được giải thoát, thảnh thơi, an vui một đời. Bỏ cái gì? Bỏ lòng ham muốn (ái dục).

Tóm lại, trong giai đoạn I của Thiền Ðịnh là giai đoạn LY, dùng ba hạnh ĂN, NGỦ, ÐỘC CƯ làm đối tượng để tu tập, khắc phục cho được tâm ly dục. Các con nên nhớ, chúng ta là tu sĩ của đạo tu hạnh giải thoát thì thời gian nào, ngày nào, tháng nào, năm nào cũng là mùa Xuân, mùa Xuân vĩnh cửu trong tâm hồn của chúng ta, mùa Xuân không có nhân quả, mùa Xuân không có diễn biến luân hồi. Vì thế chúng ta không có chúc thọ, không có mừng tuổi, mừng Xuân thế gian. Hãy sống bình thường, hãy giữ tâm bình thường trước mọi diễn biến của không gian và thời gian bằng một tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là mùa Xuân vĩnh cữu.

PHẦN II: LY BẤT THIỆN PHÁP

Ly là lìa xa, rời xa. Bất thiện pháp là tham, sân, si, mạn, nghi, những thói quen, tật xấu, những điều suy nghĩ, những lời nói, những hành động làm cho mình khổ, người khác khổ. Bất thiện pháp còn gọi là pháp ác, pháp hung dữ, pháp làm khổ đau. Vậy, muốn lìa xa pháp ác thì quý phật tử phải rèn luyện, tu tập ba đức: 1. NHẪN NHỤC. 2. TÙY THUẬN. 3. BẰNG LÒNG. Quý phật tử nên lưu ý ba đức giải thoát này là để lìa xa các pháp ác, rất là khó tu:

- Nếu không biết tu đúng cách thì sẽ hoài công, vô ích.

- Không đủ nghị lực, bền chí, gan dạ, kiên trì, thì cũng bỏ cuộc tu hành giữa đường.

- Nếu không cầu xin pháp chỉ thẳng, đập thẳng mạnh mẽ của thiện hữu tri thức thì cũng khó mà tu được ba đức ba hạnh này vững vàng. Ba đức ba hạnh này là cốt tủy của giới luật để thực hiện tâm ly dục ly ác pháp. Nếu các con xem thường ba đức ba hạnh này thì dù tu bao lâu con đường tu tập cũng không có kết quả.

1.- NHẪN NHỤC

Bây giờ Thầy dạy các con tu tập pháp ý tứ, ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.

Thầy thường nhắn nhủ với quý phật tử, đức Phật ngày xưa đã dạy: “Nhẫn một việc khó nhẫn, làm một việc khó làm”, đó là nhắc nhở quý phật tử ly dục, ly bất thiện pháp để nhập vào thiền định. Ðây là một việc tu tập khó khăn vô cùng, chứ không phải ngồi tréo chân hít thở hoặc giữ tâm không vọng tưởng là thiền định.

Nguyễn Thái Học đã nói: “Ðường đi không khó vì ngăn sống cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” đường đi không khó mà khó vì người không biết đường. Quý phật tử cũng vậy, khi tu không biết cách tu mà tu theo kiến giải của các nhà học giả Ðại thừa, thì đó là đường đi khó (vì chưa biết đường). Cố gắng đi mà đường đi không thu ngắn lại, chỉ đi lòng vòng, không có lối ra, như con kiến bò trên miệng lu.

Khi đã biết đường, thì dù cho khó đến đâu, chúng ta cũng đi đến đích, chỉ cần có ý chí là thành tựu. Cũng như quý phật tử đã biết pháp tu thì mỗi bước đi sẽ thu ngắn quãng đường. Trước khi bắt tay vào việc tu tập cụ thể ở phần II của Giai đoạn I này, tức là Ly Ác Pháp thì các con phải tu tập dứt điểm ở phần I là Ly Dục hay ít ra các con cũng phải sống đúng giới luật thấy những lỗi nhỏ nhặt đáng sợ, thấy lỗi mình không thấy lỗi người. Quý phật tử phải hoàn thành tâm mình Ly Dục, nghĩa là hoàn toàn Ly Chấp Ngã.

Người chưa ly dục hoàn toàn mà vội ly ác pháp là một hành động điên rồ, tu tập như vậy là ức chế tâm, là nén tâm, chịu đựng, an phận. Cũng ví như người sống phạm giới phá giới mà ngồi thiền nhập định thì chẳng có ích lợi gì.

Nếu người đang sống trong cảnh dục lạc thế gian, tâm chưa ly dục mà theo học hỏi những thiện pháp trong kinh sách thì chỉ mới gieo chủng tử ly dục, ly ác pháp của đạo giải thoát mà thôi. Không phải sự học hỏi, sự hiểu biết đó là ly dục, ly bất thiện pháp được mà còn phải tu tập nhiều nữa.

Nếu tâm chưa ly dục mà học hỏi kinh sách để tích lũy giáo pháp giải thoát của Ðạo Phật thì người này chỉ nuôi lớn bản ngã ác pháp, chứ không ly dục, ly ác pháp được chút nào.

Nếu một người tâm chưa sống ly dục, mà thường học hỏi những thiện pháp trong kinh sách để làm kiến giải riêng của mình, rồi dùng đó xả ly ác pháp và tâm ham muốn của mình, thì không bao giờ ly dục, ly ác pháp được, mà đó chỉ là lối tu tập đè nén tâm mình, hoặc tránh né tâm mình, hoặc trốn chạy tâm ham muốn và ác pháp mà thôi.

Người nào đang sống trong dục lạc thế gian mà tu Thiền Ðịnh thì chẳng bao giờ nhập được định cả. Nếu có nhập được thì cũng chỉ rơi vào tà thiền, tà định, định tưởng mà thôi.

Nếu một người còn sống trong dục lạc mà tu đức nhẫn nhục, thì chẳng nhẫn nhục được gì, mà ngược lại, đó là lối tu tập nén tâm, ức chế tâm, làm cho tâm thêm đau khổ và thần kinh bị hưng phấn.

Nếu một người dùng hình thức bề ngoài để ly dục, mà trong tâm không ly dục, vội tu đức nhẫn nhục, cũng chẳng tu nhẫn nhục được gì. Trái lại tâm hồn còn thêm đau khổ. Giống như quý phật tử đã từng nói sự tu hành xả tâm phải “Bằng máu và nước mắt”. Ðó là sự tu sai, do nén tâm chịu đựng nên mới thấy sự khổ đau như vậy, chứ tu đúng thì tâm bất động, dù bất cứ pháp ác nào cũng không làm nó động tâm được.

Nên nhớ, ly dục là lìa xa cái tâm ham muốn, chớ không phải ly vật dụng, vật chất. Một người sống ở rừng núi không có vật dụng gì, như loài khỉ, vượn, người này ly vật dụng, chớ không ly tâm dục. Loài động vật cũng vậy, ly vật dụng, chứ không phải ly tâm dục của nó.

Người nghèo không có vật tùy thân, không phải là người ly dục. Người có đầy đủ vật chất trên thế gian mà không dính mắc vào những vật chất ấy. Người ấy ly dục!

Người ăn thực phẩm dở mà không đòi thực phẩm ngon, không thích ngon, không chê dở. Đó là người ly dục.

Người ăn thực phẩm ngon mà không đòi ăn thực phẩm dở. Đó là người ly dục.

Người ăn thực phẩm dở mà đòi ăn thực phẩm ngon là người không ly dục. Ngược lại cũng vậy.

Người không thèm ăn thực phẩm này, thực phẩm khác là người ly dục.

Người còn thèm ăn thực phẩm này, thực phẩm khác là người chưa ly dục.

Ở cảnh động mà không đòi ở cảnh tịnh, là người ly dục.

Ở cảnh động mà đòi ở cảnh tịnh là người chưa ly dục.

Người mặc áo đạo, xuất gia tu hành mà tâm còn ham muốn cảnh thế gian là người chưa ly dục.

Người xuất gia tu hành mà tâm còn làm những chuyện cầu danh ở thế gian là người chưa ly dục.

Ở cảnh động, cảnh chướng tai gai mắt mà không bị động, không thấy chướng tai gai mắt là người ly dục.

Người nào luôn giữ tâm thanh thản là người ly dục.

Người nào luôn giữ tâm vô sự là người ly dục.

Người nào tâm không phóng dật là người ly dục.

Người nào tâm chưa vô sự là người chưa ly dục.

Người nào không giữ tâm thanh thản, tâm hay sanh chuyện này, chuyện kia, là người chưa ly dục.

Người đứng núi này trông núi nọ là người chưa ly dục.

Người sống trong cảnh tu hành này mà đòi hỏi cảnh tu hành khác là người chưa ly dục.

Sống trong hoàn cảnh này mà vui với hoàn cảnh này là người ly dục.

Người sống trong hoàn cảnh này mà đòi hoàn cảnh khác là người chưa ly dục.

Cùng một công việc có nhiều người làm, nhưng hôm nay không ai chỉ có một mình làm nên tâm sanh ra chướng ngại, đó là tâm chưa ly dục.

Còn biết bao nhiêu điều so sánh về vấn đề ly dục và không ly dục. Ở đây, Thầy chỉ nêu ra một số vấn đề cụ thể để quý phật tử hiểu rõ trong khi tu tập ly dục cho đúng cách.

2.- TÙY THUẬN

Ðiều quan trọng trong sự tu tập là luôn luôn tỏ lòng tôn kính ý kiến và việc làm của người khác. Ðó là ý kiến và việc làm đúng, còn ý kiến và việc làm sai của người thì ta tùy thuận để ly ác pháp, nhưng không để lôi cuốn. Bởi vậy tu tập đức tùy thuận là một việc làm khó khăn vô cùng, không phải dễ làm. Chỉ có sống ly dục, tránh các duyên, và bảo vệ tâm, giữ gìn sáu căn thì mới có thể ly dục, ly ác pháp dễ dàng mà thôi.

Tùy thuận có hai chiều, tùy thuận người và tùy thuận mình .

- Tùy thuận người là tôn kính mọi lời nói, việc làm của người khác.

- Tùy thuận mình mà tôn kính mình thì không khéo mình chạy theo dục và nuôi ác pháp, nuôi ngã của mình. Nên nhớ, tùy thuận mình là tùy theo khả năng của mình mà làm, tránh trường hợp nuôi dục, nuôi bản ngã. Tùy thuận là để ly dục, ly ác pháp và diệt ngã. Mục đích của nó không phải ở ý kiến và việc làm của mình, mà chính là để được tâm hồn giải thoát, an vui, thanh thản. Ðó cũng là bước đầu ngăn chặn và chấm dứt các duyên nhân quả, không cho tiếp diễn theo nghiệp lực của nó.

Ðức tùy thuận là một phương tiện ly bất thiện pháp, xả ngã rốt ráo. Nếu một người còn chấp một chút ngã cũng không tu tập đức tùy thuận đúng cách được. Ở đời, ai cũng muốn làm thầy thiên hạ, chỉ huy thiên hạ, luôn luôn thấy mình hay, giỏi hơn thiên hạ, ít ai tùy thuận ai được. Bởi tùy thuận là một đức hạnh cao quý để xây dựng, rèn luyện con người trở thành người khiêm hạ, luôn luôn biết làm cho người khác vui lòng. Nó cũng xây dựng, rèn luyện cho con người thành người ý tứ trong công việc làm, không để cho thất bại. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người thành người biết tôn trọng ý kiến người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người trở thành người học hỏi cái hay và biết cái dở của người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người trở thành người sáng suốt và bình tĩnh trước mọi ý kiến của người khác.

Ðiều quan trọng nhất trong sự tu tập đức tùy thuận là xây dựng rèn luyện con người thành người đầy đủ nghị lực, gan dạ, chấp nhận mọi ý kiến người khác để trở thành người nhỏ nhất, mà cũng là người lớn nhất.

Vậy, đức tùy thuận là gì?

Tùy là dựa theo, làm theo. Thuận là hòa thuận, không chống trái nhau. Tùy thuận là dựa theo, làm hòa hợp ý kiến, việc làm của người khác, mà không chống trái nhau. Ở đời, vì thiếu đức tùy thuận lẫn nhau, ai cũng cố chấp ngã, chấp kiến nên mới sanh ra biết bao sự chống trái lẫn nhau, tạo nên cảnh nghịch ý trái lòng. Do đó gây ra biết bao ác pháp, khiến cho mình khổ, người khổ. Vì thế, chúng ta là tu sĩ của đạo Phật, phải cố gắng tu tập và rèn luyện đức tùy thuận. Muốn tu tập và rèn luyện đức tùy thuận để ly ác pháp và diệt bản ngã ác thì quý vị phải luôn luôn thực hiện:

1. Luôn luôn làm theo ý kiến người khác, bất cứ người nào, dù ở giới nào, giai cấp nào, già hay trẻ, bé hay lớn, nam hay nữ, sang hay hèn, hay vua quan trong xã hội. Ðó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngã diệt ác pháp.

2. Không làm theo ý kiến của mình, dù ý kiến của mình có đúng một trăm phần trăm. Ðó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, diệt ngã xả tâm.

3. Làm theo ý muốn của thiện hữu tri thức mà không làm theo ý muốn mọi người, đó không phải là tùy thuận, ly ác pháp. Ðó là tâm sợ hãi (làm theo lệnh chỉ huy). Làm theo ý muốn của thiện tri thức, và cũng làm theo ý muốn mọi người mới là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngã.

4. Trước khi muốn làm một việc gì thì phải hỏi ý kiến của thiện hữu tri thức và của mọi người. Nếu tùy tiện làm theo ý của mình là hành động theo bản ngã, nuôi dưỡng bản ngã và các ác pháp. Như thế thì không thể nào tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngã ác

5. Khi thưa hỏi xong, phải làm đúng theo ý kiến mọi người. Ðó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, diệt ngã ác.

6. Khi thi hành có sơ sót, bị la rầy, liền tức khắc chuyển sự tu tập thùy thuận sang tu tập nhẫn nhục để ly ác pháp. Có như vậy mới gọi là tu tập đức tùy thuận trong đức nhẫn nhục.

7. Luôn luôn phải tôn kính ý kiến của mọi người, vì có tôn kính ý kiến của người khác ta mới tùy thuận được ý kiến người khác mà không làm theo ý kiến của mình. Ðó là ly dục, ly bất thiện pháp.

8. Luôn luôn phải hạ mình kính trọng mọi người, vì có kính trọng mọi người thì mới có tùy thuận được người.

9. Muốn ly ác pháp và diệt ngã thì phải tu tập nhận thấy mình là nhỏ nhất, là kém nhất.

10. Muốn trở thành bậc Thánh hiền thì phải tu tập thấy mình nhỏ nhất, kém nhất.

Tùy thuận, nhưng không bị lôi cuốn vào ác pháp, quý vị nên lưu ý. Nhiều khi chúng ta tùy thuận mà thiếu trí phán xét những ý kiến ác của kẻ khác khiến chúng ta thành kẻ tòng phạm.

Khi tu hạnh đức tùy thuận, đối với ác pháp ta nên tránh né và tránh xa những kẻ ác, ý kiến ác thì tùy thuận mà không bị lôi cuốn. Nhớ kỹ: TÙY THUẬN MÀ KHÔNG BỊ LÔI CUỐN TRONG ÁC PHÁP, như vậy mới thật là tùy thuận. Muốn tùy thuận được như vậy thì phải triển khai tri kiến nhân quả cho thông suốt, nhờ có triển khai như vậy mới có tùy thuận vững vàng trước các ác pháp.

3.- BẰNG LÒNG

Ðức bằng lòng tu tập rất khó. Nếu tu được đức tùy thuận, đức nhẫn nhục mà tâm chưa bao giờ bằng lòng thì tâm chẳng được an ổn, yên vui.

Tâm chưa anổn yên vui thì tâm còn trong ác pháp, trong tâm dục. Muốn tu tập đức bằng lòng thì phải lập hạnh tôn kính, kính trọng mọi người. Xưa, Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát lập hạnh kính trọng mọi người, mỗi khi gặp ai dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, vua hay quan, Ngài cũng đều cúi đầu đảnh lễ tôn kính như Phật. Nhờ tu hạnh tôn kính nên tâm hồn Ngài lúc nào cũng thanh thản, an vui, bằng lòng trước mọi cảnh, mọi việc, xa lìa các ác pháp, được giải thoát thành Phật.

Muốn tu tập đức bằng lòng thì phải có chánh kiến. Muốn có chánh kiến thì tâm phải ly dục, ly ác pháp. Nhưng bây giờ tâm quý phật tử chưa ly dục, ly bất thiện pháp, còn đang tu tập đức bằng lòng để ly ác pháp thì làm sao đây? Không có chánh kiến thì làm sao phán xét mọi người, mọi việc đúng sai? Không có chánh kiến thì làm sao hiểu người, hiểu mình bằng chánh kiến được? Do đó, muốn được chánh kiến thì ta phải can đảm, dũng mãnh nhìn nhận tất cả ý tưởng, lời nói, việc làm của người khác là đúng, là tốt, là thiện. Nhờ đó ta thực hiện đức bằng lòng dễ dàng. Khi thực hiện hạnh bằng lòng là quý phật tử ly được ác pháp trong và ngoài tâm. Ly được ác pháp trong và ngoài tâm, các con mới có chánh kiến. Nên nhớ: chỉ có tâm ly dục, ly bất thiện pháp thì mới hiểu được mình và người bằng chánh kiến.

Dù là người hung ác, ngu khờ, đê hèn nhất trong xã hội, Thường Bất Khinh Bồ Tát vẫn kính trọng như tôn kính đức Phật. Ðó là hạnh bằng lòng, để thực hiện sự giải thoát trong tâm của mình.

Tóm lại, phải tu tập ba đức (nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng lòng), và ba hạnh (ăn, ngủ, độc cư) để ly dục, ly bất thiện pháp. Ðiều cần thiết và quan trọng nhất là phải triển khai trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.

Trong đạo Phật có ba loại trí tuệ: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ:

a- Văn Tuệ: Trí tuệ hiểu biết bằng cách tích lũy kiến giải, tưởng giải của cổ nhân trong kinh sách, hoặc nghe thuyết giảng, hay học thuộc lòng. Trí tuệ này là trí tuệ tránh né, trốn chạy các dục, các ác pháp. Nó còn gọi là trí tuệ sở tri chướng. Càng học tập, càng tích lũy nhiều thì kiến chấp, ngã chấp càng thêm sâu dày (bản ngã to lớn). Trí tuệ này rất nguy hại cho người tu hành đạo giải thoát của đạo Phật. Xưa Ông A Nan vì có trí tuệ này mà sự tu hành trở nên chậm chạp.

b- Tư Tuệ: Trí tuệ suy tư, nghĩ ngợi, tìm tòi, triển khai sự hiểu biết của riêng mình, không vay mượn trong kinh sách. Nó còn gọi là trí thông minh. Tư tuệ là trí tuệ thông minh của mình để phát minh những điều chưa ai làm được, để hóa giải những sân hận, tỵ hiềm, nhỏ nhen, ích kỷ, để thực hiện ba đức, ba hạnh cho rốt ráo. Bởi vậy tư tuệ là trí tuệ thông minh rất cần thiết cho sự tu tập ở giai đoạn I, tu ly dục, ly bất thiện pháp. Nếu quý phật tử không chịu triển khai trí tuệ này thì khó mà thực hiện được ba đức, ba hạnh. Nếu không thực hiện được ba đức, ba hạnh thì làm sao ly dục, ly ác pháp được? Ðó là trí trí tuệ thông minh, vô sư trí của mọi con người, nên phải động não, làm việc thì mới triển khai được nó.

c- Tu Tuệ: Là trí tuệ do tu tập thiền định mà có. Nó còn gọi là Trí Tuệ Vô Sư Tam Minh; gọi tắt là Trí Tuệ Vô Lậu. Ðây là trí tuệ siêu đẳng, viên mãn, thành tựu đạo giải thoát của đức Phật. Tu tuệ được khai mở khi nhập Tứ Thiền, là một loại thiền định viên mãn đủ để dẫn tâm về Tam Minh, cho nên tu tuệ được xem là trí tuệ cuối cùng của đạo Phật. Nó chứng minh rõ ràng sự làm chủ, chấm dứt sự khổ đau trong sanh tử luân hồi của chúng ta. Nó không giúp ích gì cho sự tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Nó chỉ là một sự minh xác chơn thật, kiểm nghiệm lại sự thành tựu tu tập của chúng ta mà thôi.

Tóm lại, trong ba thứ trí tuệ: Văn, Tư, Tu, chỉ có Tư Tuệ là trí tuệ cần thiết để tu tập ly dục, ly ác pháp ở giai đoạn thiền thứ nhất.

Nếu một người chưa ly dục, ly bất thiện pháp, thì không nhập định được. Nếu không nhập định được thì làm sao khai mở trí tuệ vô sư vô lậu được? Do đó có người hiểu lầm là tu tập thiền định, rồi từ thiền định phát ra trí tuệ vô sư, từ trí tuệ vô sư vô lậu sẽ diệt sạch bản ngã, không còn lậu hoặc nữa. Đó là kiến giải của những nhà học giả Ðại thừa, chứ không phải của hành giả, của người tu theo Phật giáo.

Chỉ có Tư Tuệ là quan trọng và ích lợi cho sự tu tập của chúng ta, còn Văn Tuệ là sở tri chướng, Tu Tuệ chỉ là kết quả của sự tu tập để xác minh sự tu tập đã chứng quả rõ ràng. Nếu một người tu tập cẩn thận, có ý tứ, thận trọng giữ gìn từng lời nói, hành động; trong việc làm biết sống hòa hợp thương yêu và tha thứ cho nhau, không tỵ hiềm ganh ghét, không tranh đua hơn thiệt, không châm biếm mỉa mai, giữ gìn kỷ luật tu viện nghiêm túc, không vi phạm lỗi lầm, người đó là người ly dục, ly bất thiện pháp. Sống như vậy là tạo điều kiện, hoàn cảnh yên tịnh, thanh nhàn để cùng nhau tu hành. Sống mà nay tạo duyên này, mai tạo cảnh khác, khiến cho hoàn cảnh bất an, mất thanh tịnh thì mình tu khó, mà người khác tu cũng khó.

1/ Bắt đầu quý vị nên tu tập ý tứ, ý hành niệm. Khi tâm khởi lên một niệm, quý vị phải quan sát niệm đó, phân tích, tìm ra nguyên nhân và mục đích của nó, nó đến với quý vị là có sự việc gì trong tâm. Khi thấu rõ đó là pháp ác thì nó liền tan biến. Ðây gọi là tu tập ý tứ ý hành niệm, ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.

2/ Khi quý vị muốn nói ra một lời nào đó, quý vị phải khởi ra một ý niệm trước. Khi ý niệm khởi xong, quý vị quan sát ý niệm đó, tìm nguyên nhân, mục đích của nó. Khi thấu rõ ý niệm đó quý vị mới nói ra lời. Ðây là tu tập ý tứ khẩu hành niệm để ly bất thiện pháp lập đức nhẫn nhục.

3/ Khi tâm quý vị muốn làm một điều gì quý vị phải khởi ra ý niệm của việc làm đó, rồi cũng tìm ra nguyên nhân, mục đích của nó. Khi đã tìm xong, biết nó là thiện pháp thì thân mới bắt đầu hành động. Ðó là tu tập ý tứ thân hành niệm để ly các ác pháp, để lập đức nhẫn nhục.

Khi thân làm việc gì, phải ý tứ cẩn thận, kỹ lưỡng trong việc làm đó, không làm bừa bãi, không làm dối trá. Ðây là tu tập cẩn thận ý tứ kỹ lưỡng thân hành niệm để ly bất thiện pháp, thực hiện đức nhẫn nhục.

Khi tu tập ý tứ ý hành niệm, khẩu hành niệm, và thân hành niệm thì dùng tư tuệ quán sát ý niệm, lời nói, việc làm, biết rõ đúng sai, thiện ác, có lỗi không lỗi, phạm giới không phạm giới, diệt hay nuôi ngã, xả tâm hay dính mắc, v.v… Ðây là tu tập triển khai tư tuệ trong ý hành niệm, khẩu hành niệm, thân hành niệm để ly dục, ly ác pháp, để tu luyện tập đức nhẫn nhục.

Tóm lại, đức nhẫn nhục giúp cho quý vị trở thành người hiền hòa, bình tĩnh và sáng suốt, ôn tồn, nhã nhặn và từ ái. Nó giúp cho con người từ phàm phu trở thành Thánh Nhân. Ðức nhẫn nhục giúp quý vị xa lìa các ác pháp trong và ngoài tâm, diệt sạch bản ngã, tiêu trừ tánh hung ác, nham hiểm, tỵ hiềm, ganh ghét. Ðức nhẫn nhục còn mang đến cho quý vị niềm an vui, an lạc hạnh phúc đời đời, không còn biết sợ hãi, oán thù ai cả. Ðức nhẫn nhục còn mang đến cho quý vị những lời nói hiền hòa, những hành động nhẹ nhàng, êm ái; những ánh mắt dịu hiền, đầy lòng thương yêu đối với mọi người. Ðức nhẫn nhục đi đến đâu thì chuyện lớn thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ mất tiêu, và thường mang đến nguồn an vui ở đó. Ðức nhẫn nhục đi đến đâu thì an lạc đi đến đó cho mọi người…

Ðến đây Thầy xin chấm dứt bài pháp hôm nay. Quý phật tử hãy ghi nhớ và cố gắng tu tập. “Cố công mài sắt, có ngày nên kim". Sự giải thoát đang chờ các con ở phía trước nếu các con tu tập đúng lời Thầy đã dạy.

Bây giờ Thầy trở lại bài giảng Ly Bất Thiện Pháp để bổ túc thêm cho được đầy đủ các pháp hành. Muốn tu tập ly bất thiện pháp thì ta phải dùng ba đức: Nhẫn nhục, Tùy thuận, Bằng lòng. Nghĩa là đứng trước mọi hoàn cảnh, mọi sự vật, mọi đối tượng, quý vị phải tu tập Pháp Hướng Tâm. Pháp hướng tâm còn gọi là Pháp Dẫn Tâm. Dẫn Tâm như thế nào? Dẫn tâm cũng như dẫn một đứa bé con còn thơ, nếu dẫn nó vào chỗ sạch sẽ không dơ bẩn (đạo đức) thì nó chơi sạch sẽ, nếu dẫn nó vào chỗ dơ bẩn thì nó dơ bẩn, ô nhiểm (thiếu đạo đức). Dẫn tâm cũng vậy, dẫn tâm vào chân lý giải thoát của đạo thì tâm giải thoát của đạo. Chân Lý giải thoát của đạo Phật là chỉ thẳng vào mọi duyên, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi sự việc đều hiểu biết rõ nó là Vô Thường, Khổ, và không có thực thể bản ngã trong đó. Tất cả đều do các duyên hợp lại mà thành, khi duyên tan là mất hết, không còn có một cái gì tồn tại. Khi đã hiểu rõ như vậy và thấy rõ như vậy, thì dùng Pháp Hướng Tâm mà nhắc tâm như vầy:

1- Như lý tác ý: “Từ đây về sau không được kiến chấp cái tâm là có thật, mà phải thấy nó không phải của ta, không phải là ta, không phải bản ngã của ta”. Khi chúng ta đã quán xét và biết như vậy nên không còn chấp ngã, do không chấp ngã nên đau khổ, phiền não trong tâm không còn nữa.

2- Như lý tác ý: “Các duyên tan hợp theo nhân quả, diễn biến luân hồi nên không có thật thể bản ngã, toàn là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã”.

3- Như lý tác ý: “Ðời sống của con người là duyên tan hợp của nhân quả, vì nó không có bản ngã chân thật, toàn là vô thường và đau khổ. Từ đây cái tâm phải bỏ xuống, không được chấp cái ta nữa, vì chấp cái ta là tạo thêm đau khổ và ác pháp trong tâm”.

4- Như lý tác ý: “Ai theo cái duyên nhân quả, tạo ác là phải thọ lấy cái quả khổ, ta không dại gì đem khổ vào thân. Từ nay, cái tâm hãy bỏ xuống ác pháp đi để được an vui, thanh thản và vô sư”.

Quý vị hãy cố gắng động não, triển khai những trí tuệ nhân quả, duyên tan hợp để thấu rõ lý Vô Thường, Khổ, Vô Ngã của đạo giải thoát thì chừng đó quý vị mới nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng được. Ðây là pháp dẫn tâm, lập đức nhẫn nhục, vào tâm ấn của Ðức Phật theo duyên tan hợp, diễn biến luân hồi của nhân quả. Khi có một niệm khởi ra trong đầu thì quý vị mau dẫn tâm vào lý giải thoát, để tâm hồn được thanh thản, an lạc và vô sự. Muốn giữ tâm cho được thanh thản, an lạc và vô sự thì khi có một niệm tào lao nổi lên, quý vị phải nhắc tâm như thế nầy:

1/ Như lý tác ý: “Cái tâm phải thanh thản, không được nghĩ ngợi tào lao, vì nghĩ ngợi tào lao thì tâm bị phân chia ra tan nát khó mà vào thiền định được”.

2/ Khi biết tâm mình thường giận hờn, phiền não, đau khổ thì dẫn tâm theo pháp như lý tác ý thế này: “Cái tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự, không được giận hờn, đau khổ, phiền não nữa, vì đau khổ, phiền não là các pháp ác”.

3/ Khi có một niệm thương nhớ, lo sợ thì phải dẫn tâm tác ý như sau: “Cái tâm thanh thản, không được thương nhớ, lo sợ vì các pháp đều là do duyên tan hợp theo nhân quả nên không có gì là của mình. Vậy hãy bỏ xuống, đừng thương nhớ lo sợ, vì thương nhớ lo sợ là ác pháp, là pháp làm đau khổ trong tâm hồn của ta.

4/ Khi tâm đang ở trong trạng thái thanh thản, không có niệm khởi, thì hãy dẫn tâm như thế nầy: “Cái tâm phải thanh thản trong trạng thái thanh thản, vì có thanh thản thì tâm mới có nội lực. Tâm có nội lực thì mới nhập thiền định”.

Trên đây là pháp hướng tâm như lý tác ý để giữ tâm thanh thản. Muốn giữ tâm thanh thản thì phải nương vào hơi thở, không ức chế tâm mới gọi là Ðịnh Niệm Hơi Thở. Thỉnh thoảng lại tác ý nhắc tâm thanh thản một lần. Ðó là giữ tâm thanh thản trong hơi thở. Lúc nào, ngày nào, giờ nào, hễ có rảnh là dẫn tâm vào thanh thản. Ðó là tu pháp an trú tâm thanh thản an lạc và vô sự bằng phương pháp tác ý dẫn tâm vào trong trạng thái thanh thản. Dẫn tâm vào trạng thái thanh thản là dẫn tâm nhập Sơ Thiền; dẫn tâm nhập Sơ Thiền là để lập đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng; lập đức nhẫn nhục, tùy thuận bằng lòng là để ly dục ly ác pháp. Tâm có thanh thản thì tâm mới có bình tĩnh, sáng suốt. Tâm có bình tĩnh sáng suốt thì tâm mới có nhẫn nhục. Tâm nhẫn nhục thì tâm mới tùy thuận. Tâm có tùy thuận thì tâm mới bằng lòng. Tâm có bằng lòng thì mới xả tâm được. Tâm có xả được thì tâm mới ly dục ly ác pháp. Tâm có ly dục ly ác pháp thì tâm mới có an vui, hạnh phúc. Tâm có an vui hạnh phúc là tâm nhập Sơ Thiền, tâm nhập Sơ Thiền là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Ðến đây là Thầy đã giảng giai đoạn tu thiền phần thứ nhất tạm xong. Khi nào quý phật tử tu xong PHÂN I thì Thầy sẽ giảng giai đoạn thứ hai, thứ ba như Thầy đã hứa ở trên.

TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN I: LY DC, LY BT THIN PHÁP

Phải luôn luôn cảnh giác dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm. Câu nầy dạy người mới bắt đầu tu tập phải đề phòng cảnh giác, cẩn thận, không được đụng pháp môn nào là tu theo pháp môn ấy, mà phải dè dặt chọn lựa pháp môn tu tập để đạt được giải thoát làm chủ sự sống chết. Nếu đã chọn lựa pháp môn và tu tập không đúng, tu thành thói quen rồi thì về sau sửa lại thật là khó khăn, có khi không còn sửa lại được nữa. Thí dụ có người lạc vào tà thiền, ức chế tâm, gây rối loạn thần kinh, điên khùng, không còn tỉnh táo, và không thể nào sửa lại được, đã trở thành phế nhân tàn tật. Cũng như người học nhiều giáo lý, tích luỷ kiến thức thế gian quá nhiều cũng khó sửa lại: họ đã nuôi lớn bản ngã bằng trời. Ðó là do huân tập sở tri chướng quá nhiều. Con đường tu tập của họ qua những kiến thức này đã chấm dứt đời tu của họ. Nếu một người tu tập có thần thông bùa chú cũng không sửa lại được vì kiến chấp của họ chết cứng trong lớp vỏ này. Nếu người tu lạc vào thiền định tưởng, có trạng thái khinh an, hỷ lạc, người này cũng khó sửa lại và chết cứng trong lớp vỏ này.

Bởi vậy trong giai đoạn I này, Thầy luôn luôn nhắc nhở các con phải đề cao cảnh giác, nếu không tu thì thôi, mà đã tu thì phải tu cho đúng pháp, nếu tu hành sai, thành thói quen lười biếng, mất hết nghị lực, khó tiến vào định. Ðó là những người muốn tu mà không được sự hướng dẫn cặn kẽ, tu tập theo ý muốn của mình, sinh tâm lười biếng làm tiêu hao nghị lực, lại còn lạc vào trạng thái của định tưởng, khiến cho đời tu chẳng đi đến đâu. Tu hành phải có giờ giấc nghiêm chỉnh, giờ nào việc ấy. Phải luôn luôn cảnh giác năm điều sau đây:

(a) Giữ gìn tâm bất động, tu chuyên ròng một hơi thở, khi tu không được xen tạp niệm.

(b) Khi tọa thiền, phải giữ thân bất động, không nhúc nhích, lắc qua lắc lại. Không được ngồi thẳng quá (ưởn ngực), không được ngồi chùng quá (khòm lưng).

(c) Không được huân tập, học nhiều các pháp không phải là Phật Pháp.

(d) Không được học lối lý luận, hý luận của các pháp, mà phải học pháp chuyên ròng, tu tập và rèn luyện làm chủ thân tâm.

(e) Không được học pháp ở đầu môi chót lưỡi, cật vấn thiên hạ, tranh chấp hơn thua để nuôi lớn bản ngã.

Quý vị phải luôn luôn đề cao cảnh giác, không bắt chước những loại tà sư thường hay cật vấn ngoài vấn đề tu tập, cố ý để tranh hơn thua. Luôn luôn phải bắt chước đức Phật. Khi có tà sư ngoại đạo đến cật vấn không đúng đường lối tu tập giải thoát mà hỏi những điều trên trời dưới đất thì Phật không trả lời, hoặc làm thinh, hoặc trả lời; “Ðó không phải là vấn đề của Ta, không phải là đường lối của Ta”. Ðức Phật không để thì giờ lý luận, tranh đua với thiên hạ, vô ích.

Vậy từ nay về sau quý vị phải bắt chước đức Phật. Nếu có ai thật lòng tha thiết, muốn cầu pháp tu học, kính trọng thưa hỏi thì quý vị nên chỉ dạy. Còn những người hiu hiu tự đắc, cật vấn, hỏi điều này điều kia thì quý vị sáng suốt làm thinh, hoặc bảo: “Những điều quý vị hỏi không đúng cách thức tu tập ở đây, chúng tôi xin miễn nói vì ở đây chỉ biết tu tập để được giải thoát khổ đau, chớ không tranh luận hơn thua. Xin quý vị thông cảm cho.”

Khi thưa hỏi pháp tu, không được đòi hỏi phải giải thích chữ nghĩa, vì giải thích chữ nghĩa sẽ làm mất thì giờ vô ích. Bởi trí vô sư của quý vị do tu tập để làm chủ tâm mình, chứ không phải để ra giải thích những chuyện linh tinh. Người giải thích cho dễ hiểu là giảng sư, người không giải thích là thiền sư. Tùy ở thiện hữu tri thức, khi cần giải thích thì họ giải thích, không cần thì họ không giải thích. Thiện hữu phải biết linh động, khéo léo, lúc đóng, lúc mở. Lúc đóng là để cho đệ tử khai triển trí tuệ, lúc mở là để khích lệ, sách tấn nổ lực tu tập. Những điều này phải luôn luôn cảnh giác.

Tập ít nói, không nói chuyện tào lao, không bàn đến chuyện người khác. Luôn luôn giữ tâm thanh thản, và hướng đến thanh thản.

Thường sống một mình và hướng tâm sống độc cư một mình. Luôn giữ tâm vô sự và hướng tâm đến vô sự. Ðó là phải luôn luôn cảnh giác.

Thường giữ gìn ý tứ khi làm công việc hay tiếp xúc với mọi người. Hãy dè dặt, cẩn thận từng lời nói, hành động. Luôn luôn phải giữ gìn, ôn tồn, nhã nhặn, từ ái với mọi người. Những hành động này phải luôn luôn giữ gìn, cảnh giác. Tu tập như vậy là dẫn tâm vào đạo. Nhờ có tu tập dẫn tâm vào đạo ta mới ly dục, ly bất thiện pháp, tâm được giải thoát, an vui, thanh thản, an lạc và vô sự.

Từ nay, hàng ngày quý vị phải tu tập thường xuyên, không nên gián đoạn. Lúc nào, giờ nào, ngày nào, tháng nào, năm nào, cũng luôn luôn phải cảnh giác giữ gìn tâm, dẫn tâm vào đạo. Có như vậy mới ly dục, ly ác pháp được.

Như quý vị đã biết trong lần chuyển pháp luân lần đầu tiên, đức Phật thuyết về Tứ Diệu Ðế, thì nguyên nhân đau khổ của con người là tâm ái dục. Ái dục là lòng tham muốn, ưa thích, say đắm, đam mê. Vậy muốn xa lìa nó, phải dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.

Thế nào là đừng dẫn đạo vào tâm? Là nghe nhiều, học nhiều kinh sách mà không có thực hành, hoặc có thực hành thì cũng chỉ là hình thức, lấy lệ. Họ càng học nhiều, bản ngã càng to lớn thì tâm tham danh, thích lợi càng nhiều, bít mất đường lối tu tập của họ. Cho nên suốt đời của họ không có sự giải thoát mà chỉ có sự đam mê. Phần nhiều ngày nay người ta dẫn đạo vào tâm, ít có ai biết cách dẫn tâm vào đạo. Trong kinh Nguyên Thủy Phật dạy Như Lý Tác Ý, đó là dẫn tâm vào đạo, Phật dạy Pháp Hướng Tâm, tức là pháp dẫn tâm vào đạo.

Xưa Ðức Phật còn tại thế không cho viết kinh sách vì sợ các đệ tử dẫn đạo vào tâm. Ngài chỉ nói cho tu tập, mà không cho ghi chép lại. Ðến sau này, kiết tập mới có ghi chép. Nhưng từ khi có ghi chép, người ta khó chứng đạo chỉ vì họ dẫn đạo vào tâm quá nhiều. Rồi phát triển những kiến giải, tưởng giải, viết rất nhiều sách, làm lệch con đường của đức Phật. Ðạo Phật bây giờ là đạo Phật triết lý, đạo Phật khoa học, đạo Phật siêu việt, đạo Phật tâm lý, đạo Phật mê tín, v.v… Ðạo Phật nhiều như vậy nên không có một tôn giáo nào hơn đạo Phật được! Thật ra đạo Phật không có dạy triết lý, không có dạy mê tín, không có dạy khoa học, không có dạy siêu việt, không có dạy tâm lý, đạo Phật chỉ là đạo đức nhân bản – nhân quả thuần tuý của con người để hướng dẫn con người trên thế gian này có đạo đức thoát ra bản chất của loài động vật. Nhưng chỉ có những người biết sống một đời sống an vui, không làm khổ mình, khổ người, sống thanh thản trước những diễn biến của nhân quả, và luôn luôn lúc nào cũng làm chủ nhân quả mới sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả.

42 GIAI ĐOẠN TU TẬP THEO GIỚI, ÐỊNH, HUỆ

Chúng ta là những người đ t Pht phi có bn phn h thống con đường tu tGii - Ðnh - Tuệ ca đc Phật. Con đường này tm chia ra làm 42 giai đon tu tp. Trong mi giai đon có nhiu cách thc tp luyện riêng, không đơn giản như lý lun và thuyết ging suông trong các kinh sách.

Dưới đây là Sơ Ðồ 42 Giai Ðoạn Tu Tập để giải thoát đời người, chấm dứt đau khổ, sinh tử, luân hồi theo GIỚI-ĐỊNH-TUỆ.

1. Phải luôn luôn cảnh giác, dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.

2. Dẫn tâm vào đạo bằng cách sống lập ba đức, ba hạnh. Ba hạnh là: ăn, ngủ, độc cư. Ba đức là: nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng lòng.

3. Ba đức, ba hạnh này là phương tiện tu tập ly dục, ly bất thiện pháp.

4. Chỉ có tâm ly dục, ly bất thiện pháp mới hiểu được mình, được người bằng tâm chánh kiến.

5. Hiểu được mình, được người thì mới hiểu được Phật Pháp chân chính.

6. Hiểu được Phật Pháp chân chánh là tâm thường ở trong chánh niệm.

7. Tâm thường ở trong chánh niệm là tâm tỉnh giác.

8. Tâm tỉnh giác là tâm sáng suốt và bình tĩnh.

9. Tâm sáng suốt và bình tĩnh là tâm chủ động điều khiển nhân quả thân, khẩu, ý.

10. Tâm chủ động điều khiển nhân quả thân khẩu ý là tâm không còn tham sân, si, mạn, nghi.

11. Tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi là tâm hết chướng ngại.

12. Tâm hết chướng ngại là tâm giải thoát.

13. Giải thoát tâm là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

14. Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là tâm ly dục, ly bất thiện pháp.

15. Tâm ly dục, ly bất thiện pháp là tâm nhập tứ niệm xứ.
Sau khi nhập tứ niệm xứ xong ta mới ly dục ly ác pháp nhập Sơ Thiền

16. Tâm nhập sơ thiền là tâm lìa ý muốn và diệt tầm ác.

17. Tâm lìa ý muốn và diệt tầm ác là tâm thanh tịnh.

18. Tâm thường thanh tịnh là tâm tùy tức.

19. Tâm tùy tức là tâm diệt tầm ác.

20. Tâm diệt tầm ác là tâm dừng được sáu thức.

21. Tâm dừng được sáu thức là tâm diệt tứ.

22. Tâm diệt tứ là tâm nhập Nhị Thiền.

23. Tâm nhập Nhị Thiền là tâm chủ động điều khiển sáu thức.

24. Tâm chủ động điều khiển sáu thức là tâm đóng mở sáu căn.

25. Tâm đóng mở sáu căn là tâm chủ động điều khiển sắc ấm (thân tứ đại).

26. Tâm chủ động điều khiển sắc ấm là tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái tưởng ấm: sắc tưởng, thinh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

27. Tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái tưởng ấm là tâm ly hỷ.

28. Tâm ly hỷ là tâm hết chiêm bao.

29. Tâm hết chiêm bao là tâm nhập Tam Thiền.

30. Tâm nhập Tam Thiền là tâm mới đủ sức điều khiển xả Thọ ấm.

31. Tâm điều khiển xả Thọ ấm là tâm có nội lực.

32. Tâm có nội lực là tâm chủ động điều hành Thọ ấm.

33. Tâm điều hành Thọ ấm là tâm có Định lực.

34. Tâm có Định lực là tâm diệt Thọ ấm.

35. Tâm diệt Thọ ấm là tâm điều khiển Thức ấm.

36. Tâm chủ động điều khiển Thức ấm là tâm xả Hành ấm.

37. Tâm xả hành ấm là tâm nhập Tứ Thiền.

38. Tâm nhập Tứ Thiền là tâm xả Thức ấm.

39. Tâm xả thức ấm là tâm nhu nhuyến dễ sử dụng hướng đến Tam Minh.

40. Tâm hướng về Tam Minh là tâm nhập trí tuệ vô lậu.

41. Tâm nhập trí tuệ vô lậu là tâm nhập trí tuệ giải thoát.

42. Tâm nhập trí tuệ giải thoát là tâm chấm dứt đau khổ và sanh tử luân hồi.

KẾT LUẬN

Ðể kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, Thầy tóm lược, phàm là con người, tất yếu ai cũng có sai lầm, nhưng biết được sai lầm mà tu sửa là trở thành bậc thánh nhơn. Ðạo Phật là một tôn giáo không có chỗ để cho linh hồn con người nương tựa. Chỉ có những người biết tự mình tu sửa theo giáo pháp mà đức Phật đã vạch ra. Nhờ tu tập đúng mà con người có thể tự cứu mình khỏi những khổ đau, và hưởng được sự an vui, hạnh phúc. Nếu một lần, hai lần mà chưa tu sửa được thì mười lần, một trăm lần, một ngàn lần, rồi cũng phải sửa được, chỉ cần có quyết tâm tu sửa thì sẽ có kết quả tốt. Ðừng thấy tu sửa một vài lần chưa được mà bỏ cuộc, thì đó là người hèn kém, thiếu nghị lực, thiếu bền chí. Trong đời chúng ta đã có biết bao nhiêu người tu sửa được. Cái gì cũng do chúng ta tập thành thói quen, thói quen thì có thói quen xấu và thói quen tốt. Tu sửa có nghĩa là bỏ thói quen xấu mà hằng sống với thói quen tốt. Từ ngàn xưa, đức Phật và các đệ tử của Ngài cũng vậy đã tu sửa như vậy nên Ngài bảo: “Tu hành giống như người huấn luyện voi”. Ngày nay, cũng có nhiều người tu sửa được thì tất nhiên quý vị cũng tu sửa được, không có gì phải nản chí. Quý vị phải bền chí tu tập, con đường giải thoát đang chờ đợi quý vị đang ở phía trước, phải cố gắng nhiều hơn!!! Từ đây quý vị hãy cố gắng tu tập để khắc phục tâm mình. Khi nào khắc phục được tâm mình thì Thầy sẽ giảng tiếp những giai đoạn sau, còn bây giờ chúng ta tạm dừng ở đây.