• tamthuphattu
  • huongdantusinh
  • lopbatchanhdao
  • lailamtoduong1
  • khatthuc1
  • phattuvandao1
  • tinhtoa2
  • amthat1
  • tranhducphat
  • daytusi
  • thanhanhniem2
  • vandaptusinh
  • vandao2
  • thanhanhniem3
  • tinhtoa1
  • thanhanhniem1
  • phattuvandao3
  • quetsan
  • ThayTL
  • ttl1
  • ttl3
  • chanhungphatgiao
  • toduongtuyetson
  • benthayhocdao
  • amthat2
  • amthat3
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Am thất
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
In bài này

Nghĩa Từ Nguyên Thủy Chơn Như (Vần N2)

Lượt xem: 3840

(Tỳ khưu Từ Quang tổng hợp nghĩa các từ và câu kinh được Trưởng lão Thích Thông Lạc giảng trong tất cả các sách của Ngài) 


(N2/2) vần  Ng

Ngày “CÚNG HỘI” (OaiNghi) (bộ phái khất sĩ Việt Nam) là ngày Phật tử câu hội về tịnh xá đông đảo, làm một bữa cơm chay thịnh soạn cúng dường trai tăng các sư, và ngày ấy cũng là ngày các sư thuyết giảng kinh cho Phật tử nghe. Mục đích của ngày CÚNG HỘI này là ngày thuyết pháp của các sư, chứ không phải là ngày sinh hoạt đoàn, nhưng các sư tập trung lại nhiều sư để tạo buổi thuyết giảng long trọng, đó là cách thức tạo lòng tin cho tín đồ.

Ngày BỐ TÁT (TâmThư.1) Mỗi tháng có hai ngày bố tát, ngày giữa tháng là ngày 15 và ngày cuối tháng là ngày 30. Ngày ấy thầy giảng viên xin phát lồ trước các tu sinh rồi xin sám hối rồi lần lượt đến các tu sinh, người nào cũng xin phát lồ sám hối. Đó được xem là ngày kiểm thảo để xin sửa sai những lỗi lầm. Ngày bố tát thỉnh nguyện là ngày tự nguyện, tự giác sửa mình trong giới luật Phật, phải quỳ trước giữa đại chúng phát lồ tự khai những lỗi lầm của mình và xin chừa bỏ không vi phạm nữa. Sau khi phát lồ xong liền cầu xin mọi người khác trong đại chúng chỉ cho những điều mình vi phạm giới luật để mình biết và giữ gìn không vi phạm giới luật nữa. Trong giờ phút người bạn đồng tu phát lồ sám hối thì mình chỉ thẳng những lỗi lầm phạm giới luật của người bạn, đó là mình không nói xấu, nói lỗi người, mà giúp nguời từ xấu trở thành tốt; đó là ân nghĩa; đó là một việc làm tốt, một việc là rất cần thiết của mọi người đang tu học. Bởi vì mình tốt mình cũng muốn bạn mình tốt theo. Người ta không xin mình chỉ lỗi mà mình chỉ lỗi người là mình sai, Ở đây nơi phát lồ sám hối mà có người chỉ lỗi là mình phải biết ơn người chỉ lỗi cho mình. Ngoài hai ngày bố tát nếu tu sinh có vi phạm những lỗi lầm thì không sám hối trước chúng mà chỉ xin sám hối riêng với thầy giảng viên. Dù phạm lỗi nhỏ hay lỗi lớn, tốt nhất các con nên đến trước tượng Phật nói rõ những lỗi lầm rồi xin hứa sẽ không tái phạm lại nữa.

Ngày phát lồ sám hối (OaiNghi) muốn phát biểu ý kiến thì nên dựa vào Thanh Quy Tu Viện Chơn Như, ba đức ba hạnh và chín điều cần tu tập hằng ngày" mà góp ý, thì sẽ xây dựng Tăng đoàn tốt đẹp.

Ngày Thọ Bát Quan Trai (ĐườngVề.9) là tập sống đúng như Phật và chúng Thánh Tăng, trong ngày ấy giữ gìn tám giới thanh tịnh và ôm pháp tu tập, không lìa pháp nghĩa là ngày ấy lấy pháp ngăn ác diệt ác pháp, sống thiện tăng trưởng thiện pháp, ngày ấy phải sống trầm lặng độc cưkhông được nói chuyện tào lao, nói chuyện Phật pháp, nghe băng, luận đạo, v.v… Ngày ấy được xem là ngày làm Phật, làm Thánh Tăng, làm Thánh Ni, làm bậc Hiền Thánh trong đạo Phật; ngày ấy là ngày giải thoát sanh tử và chấm dứt luân hồi muôn đời muôn kiếp. Ngày thọ Bát Quan Trai là một ngày cao thượng và cao đẹp nhất của đời sống làm người, không vi phạm những lỗi lầm nhỏ nhặt, những lỗi lầm thường xảy ra trong ngày ấy là: nói chuyện, nghe băng pháp, lo ăn uống, hỏi những điều thắc mắc chưa rõ, lý luận, tranh cãi, cho cái này đúng cái kia sai, v.v... Tất cả những sự việc này phải dẹp qua một bên. Ngày thọ Bát Quan Trai là một ngày sống toàn thiện cho chính bản thân, cho mọi người và mọi loài chúng sanh. Phải im lặng như Thánh, phải sống đơn giản nhưThánh, phải ăn uống như Thánh, phải ngủ nghỉ như Thánh, phải tôn trọng những người bạn Hiền Thánh của mình, những người đồng một chí hướng với mình. Trước giờ xả Bát Quan Trai, phải kiểm điểm lại từ sáng đến chiều, tu tập có lầm lỗi một điều gì chăng? Có vi phạm một lỗi lầm nào không? Nếu hoàn toàn không có thì ngày ấy chính là ngày đã hưởng trọn một ngày thanh thản, an lạc và vô sự, ngày ấy là ngày giải thoát hoàn toàn không còn ác pháp, ngày ấy là ngày đã tập làm chủ nhân quả nghiệp báo, ngày ấy là ngày thanh bình nhất trong tâm hồn.

Ngạ quỉ (Phậtdạy.3)(ĐườngVề.9)(CầnBiết.4)(10Lành) Trạng thái đau khổ đang bị đói mà không có thực phẩm ăn. Ngã quỷ chỉ cho những người đói khát, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Muốn tu tập để thoát ra trạng thái đau khổ này của Ngã quỷ và chấm dứt tái sanh luân hồi thì chỉ có tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Ngã chấp thủ (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) Ngã chấp thủ là những từ chỉ cho sự lầm lạc, ngu si lầm chấp cái không thật có mà cho là có thật. Thủ là bảo thủ; chấp là cố chấp, ngã của mình. Ngã chấp thủ cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, là của ta, bản ngã của ta. Nếu ai động đến thì sân hận, giận dữ, sinh ra phiền não khổ đau, v.v... Con người sinh ra ở đời vì lầm chấp ngã là thật có, nên phải chịu nhiều thứ khổ đau.

Ngã mạn (CầnBiết.2)(CầnBiết.3)(CầnBiết.4) là chấp ngã, thường cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngã, là của ta, là bản ngã của ta. Ngã mạn là ỷ mình hay giỏi mà lấn lướtngười. Ngã mạn có ba hình thức ngã mạn: 1- Thấy mình hơn người 2- Thấy mình bằng người 3- Thấy mình thua người.

Ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng (ĐườngVề.10) kỳ thực bốn tướng này cũng chỉ là một tướng của thân ngũ uẩn, nên cuối cùng nhà tưởng giải kết luận bằng một câu kinh: “Phàm cái gì hữu tướng đều hư hoại”. Kinh Kim Cang thường lý luận chia chẻ thân ngũ uẩn đưa ra nhiều danh từ như thế. Kinh sách Nguyên Thủy đức Phật xác định rất rõ ràng về các tướng như: nhân tướng, đặc tướng, hành tướng của thân ngũ uẩn là để giúp cho người tu sĩ áp dụng các pháp hành trên ba tướng này để đi đến sự giải thoát hoàn toàn, làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người.

Ngăn (Đường Về.7)(TâmThư.1) là ngăn ngừa, ngăn chặn, ngăn cản không cho vào.

Ngăn ác (TrợĐạo) tức là ngăn các niệm ác khởi. Dù niệm đó thiện nhưng vì tâm chúng ta chưa ly dục ly ác pháp hết nên thiện đó vẫn còn là ác pháp chớ không phải là thiện pháp thật sự. Hiện giờ trong tâm chúng ta có một niệm thiện thật sự duy nhất đó là niệm thiện tâm bất động.

Ngăn ác diệt ác pháp và ly dục ly ác pháp (ThờiKhóaTu) tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.

Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp (PhậtDạy.1) là “Ðịnh Tư Cụ”, tức là phương pháp tu thiền định.

Ngăn ác pháp (TrợĐạo) tức là ngăn các niệm khởi, ngăn từng tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi cho tâm bất động. Khi có niệm khởi lên trong tâm thì dùng pháp như lý tác ý làm cho niệm đó dừng lại và tan biến mất. Khi niệm đó dừng lại và tan biến thì để lại một khoảng thời gian ngắn bất động trong tâm. Tâm bất động là niệm thiện duy nhất, tức là niệm thiện tâm bất động. Hằng ngày chỉ cần tu tập một pháp ngăn ác là có đủ bốn pháp diệt ác, sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp. Tâm chưa ly dục ly ác pháp hết nên dù niệm thiện vẫn còn là ác pháp chớ không phải là thiện pháp thật sự, tất cả niệm thiện như vậy (ác pháp) đều diệt sạch. Nếu không tu Tứ chánh cần thì không bao giờ tu tập pháp nào có giải thoát cả, vì nó là đệ nhất pháp xả tâm của Phật giáo.

Ngăn chặn và hạn chế (ĐạoĐức.2) Ðầu tiên, nên ngăn chặn và hạn chế, không cho nó phát triển quá trớn. Vì thế, nên tránh xa nơi có phụ nữ ăn mặc hở hang, tránh xa xem phim ảnh đồi trụy; không nên xem hình ảnh phụ nữ lõa thể, tránh xa những món ăn kích thích dâm dục; tránh xa những lời nói tục tĩu, thô lỗ, khiêu dâm gợi dục; tránh xa những loại sách báo văn chương đồi trụy, khiêu dâm gợi dục. Phải thực hiện được “Ðức Không Tham Sắc Dục”, phải dùng tư kiến tư duy về sắc dục, thấu suốt lý về khổ đau của tâm sắc dục, thấu suốt lý nhân qủa hấp thu nam nữ đi đến tâm say đắm sắc dục. Phải tư duythân người nam cũng như thân người nữ là nơi thân bất tịnh, uế trược, hôi thối, nơi bài tiết những chất bẩn thỉu, không có thân nào là sạch sẽ tốt đẹp cả, chỉ toàn là chất bất tịnh nhất trong thân. Thân người cũng ví như một thùng rác, nơi chứa những đồ bất tịnh, uế trược. “Ðức không tham sắc dục” giúp cho chúng ta không làm hại chúng ta, giúp chúng ta sống một đời sống thanh tịnh trong sạch; giúp cho chúng ta thực hiện đạo đức thương mình, không đem tai họa, bệnh khổ vào thân. Trách nhiệm của đài truyền hình rất là quan trọng và to lớn đối với quê hương, đất nước nên những phim ảnh phải kiểm duyệt chặt chẽ, cắt bỏ toàn bộ những đoạn phim khiêu dâm gợi dục vì những hình ảnh khiêu dâm gợi dục kích động rất mạnh thanh niên, thiếu niên nam nữ dễ dàng sa ngã vào những con đường hư hỏng khác như: gái mại dâm, rượu, thuốc lá, thuốc lào, thuốc phiện, xì ke, ma túy, v.v... Nếu những loại phim này không được loại trừ và đốt bỏ, thì sẽ ảnh hưởng rất xấu cho tuổi thanh niên và nhất là tuổi thiếu niên nam nữ; Công an mở những cuộc truy quét, bài trừ băng nhóm buôn thuốc phiện lậu, băng nhóm cướp của giết người, băng nhóm rượu chè say sưa quậy xóm phá làng, v.v... Chính phủ ra lệnh: “Cấm phụ nữ ăn mặc hở hang, ăn mặc bó sát người tạo dáng khiêu dâm gợi dục; cấm các loại quán bia ôm, cà phê ôm, vũ trường; cấm các loại nhạc kích động, khiêu vũ; cấm những phim ảnh đồi trụy..." , đem đạo đức nhân bản - nhân quả, đức Không Tham Sắc Dục, dạy trong các trường học, từ cấp 1đến đại học.

Nguyên nhân khổ (ĐạoĐức.2) là lòng ham muốn của con người. Lòng ham muốn của con người là một sự thật. Làm người không ai mà không có lòng ham muốn, đến như loài cỏ cây còn có sự ham muốn (ham muốn sống).

Nguyên nhân sinh ra đau khổ (PhậtDạy.4) chính là lòng dục, dục là gốc của các ác pháp. Nó thực hiện theo qui luật nhân quả, ngoài nhân quả ra không có con người. Thân tâm của con người thường hành động theo nhân quả.

Nguyên nhân sinh ra ưu bi, sầu khổ, bệnh tử của con người (12Duyên) là nói duyên nào sinh ra sự đau khổ của con người, do duyên SINH mà có ưu bi, sầu khổ, bệnh tử.

Ngủ (ThiềnCănBản)(TâmThư.1) là một đối tượng để tu tập lập hạnh ngủ ly dục, ly mê muội. Khi ngủ có hơi thở phát ra tiếng động to như tiếng ngáy, có người ngủ tiếng động nhỏ nhiệm, gần như không nghe. Nếu người không tu tập hoặc tu tập mà chưa nhập vào sức tỉnh thức cao thì khó phân biệt người ngủ và người an trú. Cho nên thấy ai ngồi bất động đều cho là ngủ là sai. Ngủ là một nghiệp dục nặng của thân, là một thứ dục lạc trong thân nên muốn ly ngủ phải thường xuyên tu tập đi kinh hành, và siêng năng hướng tâm như lý tác ý tỉnh táo mới ly nó được.

Ngũ Ấm Ma (ĐườngVề.5) có nghĩa Ma (lực tưởng của 5 ấm cái) lưu xuất từ thân ngũ uẩn thoát ra khỏi sự điều khiển của ý thức, lực tưởng này sẽ dẫn vào thế giới Ma. Khi tu tập thấy có xuất hiện một trạng thái vượt ra ngoài pháp ý thức dẫn tâm (tức pháp tác ý) thì nên cảnh giác và dùng pháp tác ý mà ngăn và diệt nó thì sự tu tập mới đi đúng hướng, đúngđường, sự tiến bộ mới nhanh chóng. Đó là sử dụng lực Ma chuyển thành Bảy Giác Chi. Ðối với những Ma chướng này, ta phải biết sử dụng lực Ma, chứ đừng để lực Ma sử dụng ta. Ta có pháp “Như Lý Tác Ý”, tức là ta có phương pháp sử dụng lực của ý thức để đối trị lực của tưởng thức (lực Ma) và nương vào lực của tưởng thức (lực Ma) để dùng nó chiến đấu với ngoại pháp. Biết sử dụng lực Ma để tạo thành lực Bảy Giác Chi. Trong Bảy Giác Chi có lực Xả Giác Chi; lực Xả Giác Chi này sẽ giúp cho ý thức ly dục ly ác pháp hoàn toàn. Nhờ ý thức ly dục ly ác pháp hoàn toàn thì ý thức thanh tịnh, ý thức thanh tịnh thì Trạch Pháp Giác Chi mới xuất hiện. Nhờ Trạch Pháp Giác Chi thì tâm mới định tỉnh, nhu nhuyễn, dễ sử dụng hoàn toàn (tâm thanh tịnh), do đó ta mới nhập được Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Nhờ nhập được Tứ Thiền ta mới đánh thức tâm thức (thức uẩn). Nhờ tâm thức hoạt động ta mới hướng tâm để thực hiện Tam Minh, chứng quả A La Hán vô lậu.

Ngủ căn (hay năm căn) (TrợĐạo) gồm có: 1- Nhãn căn tức là hai con mắt. 2- Nhĩ căn tức là hai lỗ tai. 3- Tỷ căn tức là hai lỗ mũi. 4- Thiệt căn tức là lưỡi miệng. 5- Thân căn tức là cơ thể. Pháp môn tu năm căn là pháp môn độc cư sống một mình không tiếp xúc với các duyên bên ngoài để bảo vệ và hộ trì năm trần.

Ngủ phải biết đang ngủ (PhậtDạy.4) ngủ mà biết đang ngủ thì đó là hết mê. vì vậy tu tập theo Phật giáo thường tác ý câu: “Thân ngủ tâm phải tỉnh thức”, nhờ có tác ý câu này nên thân nằm yên ngủ mà tâm vẫn tỉnh thức biết rõ thân đang ngủ.

Ngũ dục (GiớiĐức.1) Dục là đối tượng của tâm dục. Trong kinh Phật dạy: “ly dục”. Ví dụ: ăn là một dục lạc trong ngũ dục lạc: Sắc, danh, lợi, thực, thùy. Người đang ăn cảm thấy có dục hỷ lạc, nên thích ăn, nếu không có dục hỷ lạc thì họ không thích ăn. Vậy một tu sĩ ly dục “Ăn”, chỉ ăn ngày một bữa để sống, thì đâu có hỷ dục lạc bằng người ăn ba bữa phải không?

Ngũ Giới (TâmThư.2)(CữSĩTu)(3Qui5Giới) là năm giới cấm, năm điều nghiêm cấm. Ngũ Giới tức là học năm đức nhân bản: 1- Ðức hiếu sinh, 2- Ðức ly tham, 3- Ðức chung thủy, 4- Ðức thành thật, 5- Ðức minh mẫn.

Ngũ lực (TrợĐạo) gồm có: 1- Tín lực là lòng tin sâu sắc đối với Phật pháp, không bao giờ thay đổi, lòng tin bất di bất dịch dù cho ai chống trái bài bác Phật giáo cũng không bao giờ thay lòng đổi dạ, chỉ biết tin vào pháp Phật. (Muốn có được lòng tin như vậy thì chúng ta phải sinh ra cùng thời với đức Phật ra đời hoặc phải sinh làm người được gặp một bậc tu chứng cũng làm chủ sinh, già, bệnh, chết như Phật). Khi có Tín lực thì rất siêng năng tu tập không bao giờ biếng trễ. 2- Tấn lực là sự cố gắng nỗ lực tu tập hết mình, hằng ngày nỗ lực nhiếp tâm tu tập đúng pháp không hề sai sót một niệm nào cả, luôn luôn duy nhất có một niệm Tâm bất đọng từ giờ này đến giờ khác, từ đó niệm này trở thành một sức lực của niệm nên gọi là Niệm lực. 3- Niệm lực là khi nhiếp tâm tu tập đúng pháp không hề sai sót một niệm nào cả, luôn luôn duy nhất có một niệm Tâm bất động từ giờ này đến giờ khác, từ đó niệm này trở thành một sức lực của niệm nên gọi là Niệm lực. 4- Ðịnh lực là khi toàn cả thân tâm chúng ta gom lại thành một khối duy nhất không ai làm gì nó bị phân ra được. Niệm lực hiện tiền từ giờ này sang giờ khác thì đó là Định lực. 5- Tuệ lực là khi định lực ngự trị trong tâm chúng ta suốt bảy ngày đêm thì tâm rất thanh tịnh, giống như nước hồ trong xanh, vì thế chúng ta muốn biết tất cả mọi sự việc trong quá khứ hay tương lai thì chúng hiện ra rất rõ. Danh từ trong kinh Phật gọi là Tuệ lực. Tuệ lực là sự hiểu biết không còn bị lệ thuộc vào không gian và thời. Ngũ lực là năm thành quả sau khi tu dùng ý thức giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân thanh tịnh không cho ngũ căn chạy theo năm trần. Ngũ lực này có được là do tu tập ngũ căn, khi ngũ căn thanh tịnh thì Ngũ lực xuất hiện đầy đủ. Khi tu tập một căn nào thanh tịnh thì nơi căn đó xuất hiện đầy đủ Ngũ lực. Cho nên ngũ căn và Ngũ lực là những pháp đầu tiên tu theo Phật giáo, nếu chưa tu tập Ngũ căn, Ngũ lực mà tu tập pháp nào cũng mất căn bản vì vậy nên nhớ.

Ngũ Quán (10Lành) là: 1./ Trong bữa ăn hôm nay, con nghĩ đến công lao khó khổ của bao nhiêu người làm nên thức ăn này, 2./ nguyện cố gắng tu tập tốt để xứng đáng thọ nhận thực phẩm này, 3./ nguyện ngăn ngừa những tật xấu ác, 4./ chỉ xin nhận thức ăn vừa đủ để nuôi thân, 5./ vì muốn thành tựu đạo giải thoát và cứu độ chúng sanh nên con xin thọ nhận thức ăn này. Người tu sĩ của đạo Phật, khi đi kinh hành còn phải lưu ý tránh giẫm đạp, làm chết cỏ cây.

Ngũ Thường (của Khổng Tử) (ĐạoĐức.1)(ThanhQui) gồm có: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ðạo đức này đưa ra để dạy cho con người nhằm mục đích bắt buộc mọi người phải tuân thủ theo trật tự tôn ti của giai cấp chế độ phong kiến, biến con người thành công cụ để phục vụ vua chúa: "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung".

Người (ĐườngVề.9)(CầnBiết.4) là trạng thái tâm sống trọn vẹn trong năm điều lành gọi là ngũ giới. Người là một cõi ngũ giới. Cõi giới Người có năm đức: a- Ðức hiếu sinh, b- Ðức từ bỏ lấy của không cho, c- Ðức chung thủy, d- Ðức thành thật, e- Ðức Minh mẫn. Người giữ gìn và sống năm giới trọn vẹn mới thật sự là ở cõi người, còn không giữ gìn trọn vẹn như vậy thì không được gọi là cõi người mà là mang hình người nhưng ở trong các cõi giới khác như: A tu la, ngạ quỷ, súc sanh và địa ngục. Người và các loài động đang ở trạng thái ác đều được gọi là ở cõi ác, cõi khổ đau. Người làm ác phải thọ chịu những quả khổ. Những người đó được gọi là A tu la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục; A tu la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục là những cấp bực khổ của con người, và sự khổ tận cùng là địa ngục. Muốn tu tập để thoát ra trạng thái đau khổ này và chấm dứt tái sanh luân hồi thì chỉ có tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ.

Người bất thiện, người ác (TâmThư.1) thấy lỗi người, nói lỗi người, bơi móc lỗi người khác.

Người Chiến Thắng (Tạoduyên) là sách ghi lại những cuộc tiếp chuyện giữa Hòa thượng Thanh Từ và thầy Thông Lạc về Phật pháp. Người Chiến Thắng là tự chiến thắng chính mình, chiến thắng hoàn toàn giặc sanh tử. Câu chuyện được ghi lại quá trình tu tập của Thầy Thông Lạc, có phương pháp tu tập hẳn hoi, có nội lực điều khiển làm chủ thân tâm. Người Chiến Thắng kể lại kinh nghiệm bằng máu và nước mắt của thầy Thông Lạc từ lúc tu tập theo pháp môn Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ, nhưng cuối cùng thầy buông bỏ xuống sạch các pháp môn này và chuyên cần tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ trong kinh sách Phật giáo nguyên thủy. Từ trên trạng thái tâm Bất Ðộng của Tứ Niệm Xứ xuất hiện Tứ Thần Túc, nhờ đó thầy Thông Lạc nhập Tứ Thánh Ðịnh và thực hiện Tam Minh rất dễ dàng.

Người chưa giác ngộ chân lí (PhậtDạy.4) nên nghe ai nói gì hợp với quan điểm của mình là tin ngay liền. Tin một cách mù quáng, vì thế, bỏ hết cả cuộc đời đi theo tôn giáo mà chẳng có lợi ích gì và sự tu hành cũng chẳng đến đâu cả. Các bạn có thấy mọi người tín ngưỡng tôn giáo với lòng tin mù quáng không? Nếu một người còn tâm tham, sân, si mà không biết mình còn tâm tham, sân, si là người ấy chưa ngộ chân lí.

Người chứng quả A La Hán (TâmThư.2) có đủ Tứ Thần Túc làm chủ sự sống chết, chấm dứt luân hồi, vì thế Tam minh, lục thông không thể thiếu.

Người chuyên đi du thuyết (10Lành) là người học rộng, hiểu nhiều, nói lời hòa nhã, có sức thuyết phục, có khả năng ăn nói khéo. Ngày xưa, họ thường được các vua cử sang nước khác để du thuyết, phân tích cho vua bên kia nghe ưu và khuyết của mỗi bên, những cái lợi và hại của việc đánh nhau, để cuối cùng thuyết phục được đối phương phải lui binh, hoặc hưu chiến. Ngày nay các quốc gia trên thế giới cũng có gởi Đặc Sứ, hoặc Sứ Thần đi sang nước khác để dàn xếp những vụ tranh chấp.

Người có Chánh tư duy (Phậtdạy.3) người có lòng yêu thương người khác, biết tha thứ mọi sự lỗi lầm của người khác, biết giúp đỡ những người bất hạnh.

Người có được pháp trí và tùy trí (12Duyên) thì người ấy sống trong ba thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai hoàn toàn thân tâm được giải thoát, không còn một chút xíu nào lậu hoặc. Người ấy được nhập lưu, nhập vào dòng thánh, được đầy đủ trí hữu học, được đầy đủ minh hữu học, là người hoàn toàn làm chủ sinh, già, bệnh, chết, là người đang đứng gõ vào cửa bất tử.

Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh (CữSĩTu) Trong trạng thái lạc thọ này hành giả mới xác định được tâm định tỉnh. Từ lâu mọi người ai cũng nói tâm định tỉnh, nhưng chưa ai biết được trạng thái tâm định tỉnh như thế nào. Phải trải qua bao nhiêu trạng thái mới thấy được tâm định tỉnh. Với tâm định tỉnh này các bạn sẽ nhập thiền định không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức. Tu tập có được tâm định tỉnh không phải dễ đâu các bạn ạ! Phải sống như Phật cuối cùng bạn mới có được trạng thái tâm định tỉnh. Nếu tâm bạn chưa có lạc thọ thì không bao giờ có được tâm định tỉnh. Sau khi được tâm định tỉnh thì bạn mới có một cuộc sống bình thản trước mọi ác pháp và mọi cảm thọ; chừng đó bạn mới không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh như thật; chừng đó tâm bạn mới bất động thật sự trước các ác pháp và các cảm thọ.

Người có lòng yêu thương (YêuThương.2) thì không bươi móc những chuyện xấu tốt của người khác.

Người có tâm tỉnh giác (10Lành) là người không si mê. Người tỉnh giác cao thì tâm được định tĩnh. Muốn được tâm tỉnh giác, trước phải phá cho được thùy miên. Hôn trầm, thùy miên, vô ký là trạng thái tâm trí mờ mịt, hoặc buồn ngủ, hay không nhớ, không biết gì cả, nếu không tỉnh thức thì sẽ buồn ngủ, ngủ gục, và rơi vào tình trạng mờ mịt, không hay biết gì cả. Một số người tu thiền, sau một thời gian tu tập, khi rơi vào tình trạng này họ cứ nghĩ rằng mình đã nhập định! Đức Phật dạy con đường tu chứng phải trải qua tam vô lậu học là Giới, Định, Tuệ. Nhờ trì giới nghiêm nhặt, ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện, tăng trưởng thiện, hành giả Ly dục ly bất thiện pháp nhập Sơ Thiền (nhân giới sanh định, nhân định sanh tuệ).

Người có trí (PhậtDạy.1) người hằng ngày xét lại mình thấy có những điều làm cho mình khổ, làm cho người khác khổ thì hãy mau ngăn chặn và diệt chúng cho tận gốc, bằng cách tư duy quán xét. Và phải luôn luôn xấu hổ khi có một hành động, một lời nói hay một ý nghĩ làm cho mình khổ, làm cho người khác khổ hay tất cả chúng sanh khổ thì phải hối hận ăn năn từ bỏ. Biết tu tập những việc này là biết mình ngu tức là người có trí. Tu hành theo Phật giáo chỉ có trầm tư suy nghĩ tìm cái ngu của mình để lần lần khắc phục sửa sai những lỗi lầm. Ðấy là người có trí.

Người còn sống trong dục lạc (ThiềnCănBản) mà tu đức nhẫn nhục, thì chẳng nhẫn nhục được gì, mà ngược lại, đó là lối tu tập nén tâm, ức chế tâm, làm cho tâm thêm đau khổ và thần kinh bị hưng phấn.

Người đã ly dục ly ác pháp (ChùaAm) là người đã làm chủ tâm mình, mà đã làm chủ tâm mình thì tâm mình luôn luôn bất động, thanh thản, an lạc, vô sự. Tâm tu tập đến đây thì chấm dứt cuộc hành trình tu hành theo Phật giáo, vì đó là giải thoát hoàn toàn. Cho nên cuộc đời tu hành theo đạo Phật chỉ có tâm bất động. Khi tâm bất động thì chẳng cần phải tu pháp môn nào nữa cả. Khi tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự là nhập tứ thánh định, còn nếu chưa đạt được tâm đó thì chẳng bao giờ nhập tứ thánh định được. Cho nên người nào chưa được tâm bất động mà nói nhập tứ thánh định là những người lừa đảo nói dối, gạt người. Phật pháp rất rõ ràng ai nói sai mình đều biết cả, cho nên khó có ai dối gạt được. Khi tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự thì nhập tứ thánh định đâu còn khó khăn, chỉ cần tác ý ra lệnh thì ngay đó tức khắc thân tâm liền nhập vào các từng thiền định theo ý mình muốn. Bởi vậy thiền định đâu phải là pháp để tu tập, mà thiền định là pháp môn ÐỂ NHẬP, thiền định là kết quả của pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Thiền định của đạo Phật là pháp môn giành cho những người tâm bất động để nhập, chớ không phải để cho mọi người tu tập. Phật giáo dạy chúng ta ly dục ly ác pháp là để đạt tâm bất động, chớ không dạy chúng ta tu tập thiền định theo kiểu ức chế ý thức để ý thức không còn khởi niệm.

Người đệ tử Phật (10Lành) chẳng những từ bỏ tật tham lam, mà còn hành hạnh bố thí. Không màng công danh, phú quí, không bận tâm tranh danh đoạt lợi, hằng sống với tâm buông xả không chất chứa tài sản của cải, thì tâm trí thảnh thơi, giấc ngủ an lành, ít bệnh, ít khổ. Người có nhiều tài sản, của cải, danh lợi thì sẽ mệt mỏi nhiều, và sẽ không giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Người tu theo Phật giáo phải thực hành cho kỳ được tâm không hờn giận. Đứng trước các đối tượng phải luôn luôn giữ sắc mặt bình thường, cố tránh đừng để mọi sự, mọi việc xảy ra làm sắc mặt đang vui vẻ gặp điều nghịch ý bỗng nhiên thay đổi, cau có, đỏ gay. Một niệm sân tâm nổi lên thì trăm ngàn tai họa đến (Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai), hoặc là “Một đóm lửa sân cháy tiêu cả rừng công đức”. Nếu không dằn được cơn nóng giận, ta có thể nói hoặc hành động sơ hố mà khi bình tĩnh ta sẽ thấy xấu hổ và ân hận vô cùng. Người tu hành phải ý thức sự sân hận là một tai họa lớn, nó làm mất đi sắc tướng của người tu (tăng tướng), và mất lòng nhân ái của người thế tục. Muốn hoàn toàn làm chủ tinh thần, không để một phút giây sân hận, thì phải dùng trí tuệ quán xét cho thấu suốt ngọn nguồn của đối tượng để ngăn chận chúng ở bên ngoài.

Người đứng lớp (giảng viên) (TâmThư.2) phải làm được ba điều: - Thứ nhất, trước một vấn đề phải gợi cho học viên nói lên được sự suy nghó của mình và người giảng viên cũng phải bày tỏ quan điểm suy nghó của mình, rồi đưa ra quan điểm của sách giáo khoa, nếu ba quan điểm giống nhau thì tuyệt vời. - Thứ hai, nếu quan điểm của học viên khác giảng viên thì giảng viên chỉ hướng, chỉ cách cho học viên tìm hiểu. Sự trưởng thành và kết quả nhận thức của học viên là câu trả lời và phương pháp của sách giáo khoa, do đó học viên cảm thấy giảng viên tuyệt vời. - Thứ ba, trong trường hợp nào đó giảng viên sai thì xin lỗi học viên một cách thiện chí và bình đẳng. Trên đây là ba điều kiện cần thiết cho giàng viên đứng lớp truyền đạt đạo đức cho học viên, nếu giảng viên thiếu ba điều kiện này thì rất khó truyền đạt tư tưởng đạo đức, và trong việc giảng dạy giảng viên càng gặp nhiều khó khăn hơn.

Người giác ngộ chân lí (PhậtDạy.4) là người ngay trên bốn chỗ thân, thọ, tâm và pháp mà nhiếp phục các ác pháp và ly các dục. Người giác ngộ chân lí là người biết rõ tâm có tham biết tâm có tham, tâm có sân biết tâm có sân, tâm có si biết tâm có si. Người biết như vậy là người đã giác ngộ chân lí.

Ngoan không (4Tâm) Vô ký kéo dài là ngoan không, còn gọi là không ngơ. Ngoan không là nguyên nhân phát sinh ra trí tuệ tưởng giải.

Ngọa Triều (vua Lê Ngọa Triều) (10Lành) nghĩa là vua ra chủ tọa phiên họp với triều thần, bá quan văn võ mà phải nằm chứ không ngồi dậy nổi.

Ngoại công tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là người dùng tưởng uẩn điều khiển ngoại lực.

Ngồi (4Tâm) Khi ngồi ta cũng nhắc:“Khi ngồi ta có thể đè bẹp chúng sanh ở phía dưới. Vậy ta phải cẩn thận, quan sát xem có chúng sanh ở chỗ ngồi không. Nếu không để ý, khi ngồi lắc qua lắc lại ta có thể làm đau khổ và chết chóc chúng sanh”.

Ngồi kiết già (TâmThư.1)(CữSĩTu) là tư thế ngồi xếp bằng tréo hai chân đan vào nhau. Ðó là tư thế ngồi của người tu thiền định. Tư thế ngồi này rất vững chắc để thân tâm dễ gom vào một đối tượng thân hành nội (hơi thở). Đối với đạo Phật, ngồi kiết già là một tư thế ngồi bình thường của một người tu sĩ Phật giáo, chứ không phải ngồi kiết già là điều thân, ngồi kiết già không phải là vấn đề quan trọng, ngồi được cũng tốt, ngồi không được thì ngồi trong tư thế khác cũng được. Trong Bát Chánh Ðạo không có nói ngồi kiết già.

Ngộ đạo mà chưa thâm nhập (TâmThư.1) là ngộ suông, đời còn tiếc chưa dám buông xả sạch, không thâm nhập thấy các pháp vô thường, không chứng được đạo. Không chứng được đạo cứ nghĩ rằng ngộ là phải tu vất vả khó khăn. Ngộ các pháp vô thường nhưng không thâm nhập vô thường, vì thế không chứng được đạo rồi cứ nghĩ rằng ngộ là phải tu, tu là vất vả khó khăn.

Ngộ đạo mà thâm nhập (TâmThư.1) là người thấy các pháp vô thường, các pháp vô thường khổ là thật nên buông xả sạch. Người giữ giới luật nghiêm chỉnh, tâm sẽ không phóng dật là chứng đạo dễ dàng, không có khó khăn. Ngộ và thâm nhập ngay liền là người chứng đạo không cần tu. Chứng đạo không có khó khăn, người giữ giới luật nghiêm chỉnh, tâm sẽ không phóng dật là chứng đạo. Giữ tâm không phóng dật thì sẽ chứng đạo ngay liền.

Người giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh (TâmThư.1) Khi con thể hiện đức hiếu sinh đúng (trong Giáo Án Rèn Nhân Cách lớp Ngũ Giới) không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh thì người giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh họ lại càng mến phục và kính trọng con nhiều hơn. Tai sao vậy? Vì người sống không làm khổ mình khổ người và khổ cả hai là người sống phòng hộ sáu căn (độc cư) tuy họ tiếp xúc với mọi người mà hạnh độc cư không lìa. Bởi vì năm giới đức họ phải giữ gìn nghiêm chỉnh theo đúng pháp, nghĩa là lúc nào lòng yêu thưong của họ cũng ngự trị trong tâm như hình với bóng không lìa xa nửa bước, nhờ đó họ mới giữ được giới thứ nhất và kế tiếp lúc nào tâm họ cũng ly tham đối với sáu trần, đối với từng tâm niệm không tham muốn một vật gì cả; lúc nào họ đối với nhưng người trong gia đình đều thương yêu và quý trọng, họ luôn luôn dùng lời ái ngữ, không bao giờ dùng lời hung ác nạt nộ la mắng; lúc nào cũng ôn tồn, nhã nhặn, không bao giờ nói dối, nói không thật, luôn luôn giữ gìn uy tín đối với mọi người; lúc nào cũng sáng suốt minh mẫn không bị cám dỗ bởi rượu chè, cà phê, thuốc là, cờ gian, bạc lận, cá cược, v.v...Người giữ gìn năm giới là người phòng hộ sáu căn (độc cư) bằng năm đức hạnh. Vậy người giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh nào dám cho rằng phá hạnh độc cư, chỉ người không hiểu giới hạnh độc cư mới cố chấp cho người nói chuyện là phá hạnh độc cư. Chúng ta phải hiểu người nói chuyện phạm giới độc cư và người nói chuyện mà không phạm giới độc cư; Chuyên nào nói ra không phạm giới độc cư; chuyện nào nói ra bị phạm giới độc cư; thời gian nói chuyên bị phạm giới độc cư và thời gian nào nói chuyện không bị phạm giới độc cư. Học giới luật là phải thông suốt những điều này. Giới luật của Phật chúng ta cần phải học nhiều hơn nữa, chứ cố chấp trong giới luật thì cũng bị sai pháp, sai hạnh tự làm khổ mình khổ người mà mình không biết. Ðó là trình độ hiểu biết giới luật còn kém lắm.

Người giữ giới không tà dâm (10Lành) là người biết trọng nhơn, nghĩa với người phối ngẫu của mình.

Người hiện tiền (GiớiĐức.2) Là có mặt của hai bên tranh chấp chống đối nhau.

Người Hiền trí (12Duyên) thông suốt mười hai nhân duyên, biết mười hai nhân duyên này đều là một chuỗi vòng tròn, họ đoạn trừ Vô Minh nên tâm trí sáng suốt vô cùng, thoát ra khỏi sinh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ.

Người hiện tướng phước điền (GiớiĐức.1) là người thực hiện lòng từ bi, muốn đem lại lợi ích cho chúng sanh nên thể hiện tướng phước điền để chúng sanh nào có hữu duyên được nhìn thấy và sanh khởi lòng mến phục, cung kính và tôn trọng, nhờ lòng cung kính và tôn trọng đạo hạnh phước điền đó, nên thường sống trong đạo đức nhân quả không làm khổ mình khổ người. Do đó, tâm thường sống trong thanh thản, an lạc và hạnh phúc. Cho nên hành động đạo đức giới luật là ruộng phước của vị tu sĩ đệ tử của Ðức Phật thể hiện để mọi người hữu duyên gieo trồng và cấy gặt mà hưởng phước báu vô lượng nơi đó.

Người học đạo đức (TâmThư.1) là người thấy lỗi mình không bao giờ thấy lỗi người. Vì thấy lỗi người là mình còn thiếu đạo đức. Học đạo đức là học xả tâm; là học làm người không bao giờ bị ràng buộc bởi những ác pháp; là học làm người mà ra khỏi bản chất tham, sân, si, mạn, nghi của con người.

Người học Phật (CầnBiết.2) phải nhìn đời bằng đôi mắt nhân quả - duyên sinh, phải có tri kiến nhân quả, tri kiến Thập Nhị Nhân Duyên, tri kiến kiết sử, tri kiến ngũ uẩn, tri kiến ngũ triền cái, tri kiến về các pháp bất tịnh, tri kiến các pháp vô thường, khổ, vô ngã, tri kiến về lòng từ, bi, hỷ, xả, v.v... Nếu có những tri kiến như vậy, thì người học Phật sẽ không bị đắm chìm, lôi cuốn theo những lạc thú tầm thường của thế gian. Muốn có những tri kiến này, thì người học Phật nên nghiên cứu kinh sách Nguyên Thủy, vì trong đó dạy rất đầy đủ và dễ hiểu.

Người không ham muốn (10Lành) là người ít muốn biết đủ, không có nhiều nhu cầu. Người tu hành thì ăn uống đơn giản (nhưng ăn đầy đủ chất bổ dưỡng, nhất là những người chỉ ăn một lần trong ngày), không cầu kỳ, ăn cái gì cũng được, ngủ ở đâu cũng được, không cần phải ở nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi. Người tu sĩ chân chánh ngày xưa chỉ có ba y một bát, đi xin ăn, ai cho gì ăn nấy. Ngủ thì ngủ dưới gốc cây, và cũng rày đây mai đó, không bao giờ ở mãi một chỗ (tránh sự quyến luyến nơi mình đang ở).

Người không nhiệt tâm (ĐườngVề.1) chấp hành tu tập không đúng lời dạy, thường để thất niệm nên không có kết quả giải thoát. Những người tu theo đạo Phật mà tâm đời không muốn rời bỏ, chỉ là người tu chơi, mất thời giờ của họ một cách vô ích.

Người không nói lật lọng (10Lành) là người không có làm phiền muộn bà con lối xóm, luôn luôn đem lời nói hòa giải giúp cho mọi người sống trong xã hội được an vui, hạnh phúc. Người không nói lật lọng, không nói lưỡi hai chiều, thường dùng lời êm ái, an ủi, khuyên giải và giúp cho bà con, xóm giềng được hòa thuận, thân yêu, khiến cho ai nấy cũng vui vẻ, an lòng. Người không nói lật lọng đến đâu cũng được mọi người kính yêu nên bà con, xóm giềng gặp khó khăn thì người ấy sẽ đứng ra thu xếp, hòa giải một cách dễ dàng.

Người không nói lời hung ác (10Lành) là người biết dùng ái ngữ, không nói lời hung ác, nói lời ôn tồn, nhã nhặn, hàm chứa một tâm hồn đầy nhân ái, tha thứ, bao dung. Tục ngữ ta có câu: Nói ngọt, lọt đến xương, hoặc: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Người không si mê (10Lành) là người có tâm tỉnh giác, là người biết phán đoán rành rẽ, nhận định một cách rõ ràng, đúng đắn, không biện minh để che đậy sự mê mờ, dốt nát của mình và cũng không cố chấp vào kiến thức chủ quan của mình. Hơn nữa, người ấy còn sáng suốt, không tin những tà thuyết không hợp lý, nghĩa là người ấy không si mê, mù quáng, mê tín, dị đoan, lạc hậu. Người không si mê là người có trí tuệ thông minh thấu suốt thuyết nhân quả, luân hồi nên không bao giờ tạo tội ác, và luôn luôn có những hành vi rất thiện, thường tu 10 Điều Lành và sẵn sàng mang lòng từ bi đến mọi người. Người ấy thường quán xét vạn hữu, tìm rõ nguồn gốc vô minh, phá trừ tưtưởng dính mắc, chấp trước, tinh tấn hàng ngày tiến bước trên đường giải thoát nội tâm của mình. Người Phật tử giữ giới không si mê trước tiên phải từ bỏ rượu. Trong khi tu tập thì phải duy trì giờ giấc công phu, ăn uống điều độ, không ăn phi thời. Không cố gắng thức khuya, dù là công phu, vì thân thể mệt nhọc, rã rời thì công phu cũng vô ích mà thôi. Hôn trầm thùy miên, và trạo cử, hối quá là những chướng ngại đưa đến si mê.

Người ly dục (ThiềnCănBản) là người có đầy đủ vật chất trên thế gian mà không dính mắc vào những vật chất ấy; người ăn thực phẩm dở mà không đòi thực phẩm ngon, không thích ngon, không chê dở; người ăn thực phẩm ngon mà không đòi ăn thực phẩm dở; người không thèm ăn thực phẩm này, thực phẩm khác là người ly dục; ở cảnh động mà không đòi ở cảnh tịnh, ở cảnh động; sống trong hoàn cảnh này mà vui với hoàn cảnh này; sống trong cảnh chướng tai gai mắt mà không bị động, không thấy chướng tai gai mắt là người ly dục. Người nào luôn giữ tâm thanh thản, tâm vô sự, tâm không phóng dật là người ly dục…

Người ly dục, ly bất thiện pháp (ThiềnCănBản) Một người tu tập cẩn thận, có ý tứ, thận trọng giữ gìn từng lời nói, hành động, trong việc làm biết sống hòa hợp thương yêu và tha thứ cho nhau, không tỵ hiềm ganh ghét, không tranh đua hơn thiệt, không châm biếm mỉa mai, giữ gìn kỷ luật tu viện nghiêm túc, không vi phạm lỗi lầm, người như vậy làNgười ly dục, ly bất thiện pháp, người tạo điều kiện hoàn cảnh yên tịnh, thanh nhàn để cùng nhau tu hành.

Người mới chết (LinhHồn) Người mới chết không thở nhưng tưởng của họ vẫn cảm nhận tất cả mọi sự việc xảy ra xung quanh bên ngoài, lúc bây giờ người chết cũng giống như người đang chiêm bao. Cho nên người không hiểu tưởng là hết thở thân xác như một khúc cây. Hiểu như vậy là sai, thân xác người mới chết không phải là khúc cây, khúc gỗ. Khi nào giấc chiêm bao mất là họ mới chết. Cho nên con người khi mới chết chúng ta đừng vội tẩm liệm mà hãy để thân xác người chết nằm ngay ngắn trên giường như người nằm ngủ. Hiện giờ nghiệp lực của họ đã tương ưng tái sinh luân hồi thành người hoặc thành loài vật khác rồi. Những người tạo nghiệp ác thường khi sống ăn thịt chúng sinh nên khi chết nghiệp ăn thịt chúng sinh tương ưng đi tái sinh làm loài vật để trả nhân quả để người và loài vật khác ăn thịt lại. Người sống bằng thực phẩm thực vật thì tránh nghiệp tái sinh làm loài vật và cơ thể ít bệnh tật.

Người mù (PhậtDạy.4) có mắt mà không thấy, không biết làm chủ bệnh mà nói không bệnh là lợi tối thắng, không biết Niết Bàn như thế nàomà nói Niết Bàn lạc tối thắng.Thậm chí họ còn xác quyết: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, còn ngoài ra là sai lầm”. Không có bậc Ðạo sư tu chứng khai thị hướng dẫn thì cũng giống như người mù chỉ tin vào những học giả mù khác tưởng giải rồi cho là Phật thuyết. Vì thế, sự tu tập của Phật tử chẳng đi đến đâu. Ðức Phật ví những vị thầy này là những loại trùng trong lông sư tử!

Người nhập Chánh Niệm Tỉnh Giác Ðịnh (TâmThư.1) tâm an trú trong định, có một trạng thái hỷ lạc, ngồi lâu không biết mỏi mệt, nhưng có người đi đến gần đều biết, toàn bộ thân tâm đều rơi vào một trạng thái khinh an, hỷ lạc phủ trùm toàn thân tâm, nên không còn thấy biết gì bên ngoài, chỉ còn biết một trạng thái khinh an hỷ lạc mà thôi, cho nên rất giống như người ngủ say.

Người nhập vào định tưởng (TâmThư.1) bị hành tưởng lưu xuất nên thân lúc lắc rung động hoặc thân cúi xuống ngẩng lên giống như người bị hôn trầm, nhưng không phải hôn trầm.

Người nói lời hung ác (10Lành) là người tánh tình cọc cằn, thô lỗ, thường hay mắng nhiếc, nguyền rủa, hoặc thề thốt, nói những lời độc địa, khiến cho mọi người nghe thấy sợ hãi, họ là những người không biết sửa sai, không biết hổ thẹn, xấu hổ, chỉ biết lấn áp người khác làm cho mọi người đều phải qui phục, đều ở dưới tay họ, họ bảo sao thì làm theo không được chống trái. Ví dụ: 1- “Tôi có nói gian cho tôi chết đi!”. 2- “Kẻ nào nói gian cho tôi thì Trời đánh cho nó chết đi”. 3- “Tôi có nói như vậy ra đường sẽ bị xe cán chết”.

Người phạm giới (Phậtdạy.3) là một ác tri thức không xứng đáng làm thầy, làm bạn.

Người Quy y Tam bảo (3Qui5Giới) không phải hoàn toàn ỷ lại nơi Phật, Pháp, Tăng bên ngoài, mà phải trực nhận nơi Phật, Pháp, Tăng ở lòng mình. Ngược lại, cũng không tự cao nơi Phật, Pháp, Tăng của mình, mà thờ ơ sự sùng kính nơi thế gian Trù trì Tam bảo. Chúng ta Quy y Tam Bảo phải “viên dung sự, lý” và quyết định một hướng đi, tạo cho mình một nghị lực dũng mãnh, ngăn ác diệt ác pháp, làm lành tăng trưởng thiện, quyết tiến thủ trên con đường từ phàm đến Thánh. Quy y Tam bảo là vừa mở đầu, lại vừa dẫn đến cuối cùng của chiều sống đạo đức, sống giác ngộ, sống thanh thản an lạc, sống giải thoát.

Người rất ngu (PhậtDạy.1) là không biết mình ngu. Tất cả các pháp trên thế gian này đều vô thường, không có vật gì thường hằng bất biến, không có vật gì là mình, là của mình, thế mà cứ lầm chấp là mình, là của mình. Do sự lầm chấp như vậy, mà lao đầu vào chốn dầu sôi nước bỏng để chịu lấy những sự khổ đau bất tận cũng giống như loài thiêu thân lăn mình vào ánh sáng của ngọn đèn. Ðó là những người ngu mà không biết mình ngu. Từ trong các tôn giáo cho đến những người có học thức cùng những người không học thức, đều cho rằng người chết còn có linh hồn bất diệt, nên từ đó họ làm những điều mê tín lạc hậu. Ðó là những người ngu mà không biết mình ngu, thật là người chí ngu.

Người sống độc cư (TâmThư.1) là người biết phòng hộ sáu căn. Ðộc cư đúng với phương pháp đang tu, còn sống không đúng với pháp đang tu tuy không nói chuyện nhưng vẫn chưa phải là sống độc cư.

Người sống phòng hộ sáu căn (độc cư) (TâmThư.1) tuy họ tiếp xúc với mọi người mà hạnh độc cư không lìa. Bởi vì năm giới đức họ phải giữ gìn nghiêm chỉnh theo đúng pháp, nghĩa là lúc nào lòng yêu thưong của họ cũng ngự trị trong tâm như hình với bóng không lìa xa nửa bước, nhờ đó họ mới giữ được giới thứ nhất và kế tiếp lúc nào tâm họ cũng ly tham đối với sáu trần, đối với từng tâm niệm không tham muốn một vật gì cả; lúc nào họ đối với nhưng người trong gia đình cũng đều thương yêu và quý trọng, họ luôn luôn dùng lời ái ngữ, không bao giờ dùng lời hung ác nạt nộ la mắng; lúc nào cũng ôn tồn, nhã nhặn, không bao giờ nói dối, nói không thật, luôn luôn giữ gìn uy tín đối với mọi người; lúc nào cũng sáng suốt minh mẫn không bị cám dỗ bởi rượu chè, cà phê, thuốc là, cờ gian, bạc lận, cá cược, v.v... Người giữ gìn năm giới là người phòng hộ sáu căn (độc cư) bằng năm đức hạnh. Chúng ta phải hiểu người nói chuyện phạm giới độc cư và người nói chuyện mà không phạm giới độc cư; Chuyên nào nói ra không phạm giới độc cư; chuyện nào nói ra bị phạm giới độc cư; thời gian nào nói chuyên bị phạm giới độc cư và thời gian nào nói chuyện không bị phạm giới độc cư. Giới độc cư là pháp phòng hộ sáu căn nên không có “khai, giá, trì, phạm” mà có ba giai đoạn tu tập.

Người sống với đạo đức nhân bản–nhân quả (TâmThư.2) là người biết sống với chính mình; là người không ăn cắp chính mình.

Người thân bệnh sắp chết (TâmThư.1) Khi có người thân bệnh sắp chết thì phải về lo chăm sóc giúp đỡ thuốc thang và an ủi, đem giáo pháp của Phật hướng dẫn giúp cho tinh thần người sắp chết không sợ hãi, v.v... Vì tình thương yêu mà ta về thăm an ủi, trấn an, động viên; vì tình thương yêu mà ta tùy thuận về để người đó an vui khi thấy mặt ta. Nhưng ta vẫn quán xét và biết mọi chuyện rằng: bệnh, chết là vô thường, là nhân quả. Do vậy mà tâm luôn bất động không lo lắng không đau buồn, không khóc lóc. Tuy tu chưa chứng thỉnh thoảng chúng ta về thăm cha mẹ anh chị em nếu chúng ta có tu học những điều hay biết của Phật thì chúng ta nên truyền đạt lại cho những người thân thì đó là đức hiếu sinh. Sự thăm viếng nhau là sự thể hiện tình thương của mình đối với cha mẹ anh chị em trong nhà, để cho gia đình bớt lo lắng, đỡ nhớ. Vậy vì người mà về thăm thì không gọi là bị ái kiết sử ràng buộc. Dù cho nói mình đã cắt đứt tình cảm gia đình để đi tu, nhưng làm sao mà có thể quên được những kỷ niệm khi còn sống chung với gia đình. Tình cảm gia đình luôn vẫn phải giữ, nhưng tình thương yêu của người tu sĩ đã nhân rộng, phóng rộng ra rồi cho nên đối với người tu mọi người như nhau, không còn ích kỷ chỉ nghĩ đến người thân nữa mà trái lại khi nghe ai khổ vẫn đến thăm viếng như nhau, không còn phân biệt người thân hay người ngoài. Chính vì vậy mà người thân của mình vẫn nằm trong số người mình yêu thương nhưng không phải vì những người thân mà tình cảm của mình bị quỵ lụy, day dứt, trói buộc. Chỉ trừ khi chúng ta quyết tử trên Tứ Niệm Xứ 7 ngày 7 tháng 7 năm để chứng đạo thì sống độc cư độc bộ độc hành ở giai đoạn 3 thì mới không về thăm.

Người thế gian phàm phu tục tử (TâmThư.2) người thường thấy lỗi người, dù họ là người tu sĩ nhưng họ chỉ là những tu sĩ Bà La Môn. Nếu tu sinh nào tu tập theo Phật giáo Nguyên Thủy mà còn thấy lỗi người, sống thiếu đức hiếu sinh và thiếu đức tha thứ, là những tu sĩ của Bà La Môn.

Người thích nói chuyện (ĐườngVề.3) là những người không xứng đáng là đệ tử của Phật, ngoài đời người ưa đem chuyện người này nói cho người khác biết hoặc đem chuyện người khác nói cho người này biết là những người không tốt, người ác, người nhiều chuyện. Chúng ta là những người tu theo đạo Phật thì hãy tránh xa những hạng người này, họ là những loại vi trùng độc sẽ giết chúng ta trên đường đạo.

Người thiện (TâmThư.1) thấy lỗi người mà không nói lỗi người, không bơi móc lỗi người.

Người thiền định của Đạo Phật (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) của Ðạo Phật là người biết buông xả các ác pháp, là người biết yểm ly tham, sân, si, biết thiểu dục tri túc, biết sống độc cư trầm lặng một mình.

Người Thiện hữu tri thức (ĐườngVề.3) thân cận luôn để ý đến mình, biết mình tu sai, tu đúng để chỉ bảo thêm, vì hàng ngày họ tiếp duyên với mình, họ đều có gợi ý thử thách, để xem mình tu đến đâu, mà tìm cách chỉ dạy buông xả cho hết tâm phiền não, đau khổ. Mình không đặt niềm tin ở họ, thì mình tu không giải thoát và phải chịu lấy mọi sự đau khổ, tu tập đúng thì có giải thoát mình nhờ, còn tu sai mình phải gánh chịu hậu quả.

Người trì độn công phu (Tạoduyên) Người tu tập trong ngu si, không có nghiên cứu kinh sách.

Người tu chứng chân lí (PhậtDạy.4) mới dám xác nhận pháp nào sai, pháp nào đúng. Khi tu chứng mới thấy được cái sai cái đúng. Trên hành tinh này loài người chỉ có bốn chân lí, bốn chân lí ấy phải chân thật, thực tế, cụ thể rõ ràng như chân lí của Phật giáo KHỔ, TẬP, DIỆT, ÐẠO mới thật là chân lí, dù mọi người tu chưa chứng đạo nhưng vẫn nhận thấy biết rõ ràng cụ thể, không có mơ hồ, trừu tượng, ảo tưởng.

Người tu chứng đạo bằng miệng lưỡi (TâmThư.2) là những người không xứng đáng đứng lớp dạy. Người đứng lớp chỉ để truyền đạt tư tưởng đạo đức cho học viên, nhưng về tinh thần thì học viên và giảng viên đều thể hiện nét bình đẳng trong đạo Phật rất rõ ràng.

Người tu chứng quả A La Hán (ĐườngRiêng) không khác gì mọi người, nhưng tâm họ thì khác hơn vì họ không còn ham muốn bất cứ một vật gì trên thế gian này, không phiền giận bất cứ một người nào. Tất cả ác pháp đến với họ không còn làm cho họ giao động tâm, họ sống rất thanh thản, an lạc và vô sự, lúc nào cũng có một niềm vui trong lòng.

Người tu chứng Tam Minh (TâmThư.2) thì tất cả đều thông suốt, nhưng tu mà phạm giới thì không bao giờ tu chứng được Tam Minh.

Người tu sĩ chân chánh của Phật giáo (Đường Về.7) buông xả sạch, đời sống thiểu dục tri túc tối đa,không có chùa to tháp lớn y áo nhiều, ăn ngày một bữa, chẳng ăn phi thời.

Người tu sĩ của đạo Phật (ĐườngVề.1) Chọn Ðạo làm con đường giải thoát kiếp sống lầm than đau khổ của mình, thì Ðạo có gian khổ cách nào cũng không chùng bước, thà chết, chết trong Ðạo, chết trên bồ đoàn, chết trong sự giải thoát nhân quả, phải chết vì Ðạo, vì sự chấm dứt luân hồi, đau khổ của đời người; viễn ly, xa lìa tất cả những gì gọi là cuộc sống thế gian, không bỏ cuộc tu hành. Chấp nhận đời sống xuất thế gian, chọn lấy nghề ăn xin không còn làm ra tiền bạc nữa, giải quyết được bản ngã ác vĩ đại. Lìa bỏ đời để đi tìm giải thoát, phải noi gương đức Phật, buông xuống hết, chỉ còn duy nhất những pháp nào Phật đã thực hiện được giải thoát sanh, lão, bệnh, tử, thì chúng ta phải lấy đó hành trì không nên biếng trễ, để trở thành người giải thoát hoàn toàn. Khi đã khoác chiếc áo Tỳ kheo, đã nhận được đời sống xuất gia, không thể như đời sống tại gia được, hoàn toàn phải đoạn trừ tâm luyến ái, viễn ly, xa lìa, từ khước tâm danh lợi của đời sống thế gian. Không những chỉ đoạn trừ tâm danh lợi ở thế gian mà còn phải đoạn trừ tâm danh lợi trong Ðạo bằng những danh từ cao thượng khác như danh từ “Phật sự, Như Lai sứ giả, tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo”. Người đi tu theo đạo Phật hiện giờ không tìm sự giải thoát mà chỉ nhắm vào danh và lợi. Người tu sĩ đạo Phật muốn thể hiện độ người tu giải thoát thì phải thể hiện sự sống giải thoát tức là ly dục ly ác pháp, ly vật chất của cải tài sản tiền bạc châu báu thế gian, lìa chùa to tháp lớn, lìa danh lìa lợi, lìa nữ sắc, lìa ăn ngon, mặc đẹp, v.v... phải bỏ danh lợi trong Ðạo. Người tu sĩ đạo Phật phải trầm lặng, cô đơn độc cư và ít nói chuyện, nhất là phải giữ gìn tâm mình trong trạng thái yên lặng, bất động, không được nhôn nhao, lăng xăng nghĩ ngợi, lo lắng, suy tư và sợ hãi, giận hờn, buồn rầu, lo nghĩ, v.v… luôn luôn phải giữ tâm mình không cho suy nghĩ những chuyện vu vơ, không cho lo lắng hối tiếc buồn phiền những chuyện đã qua, không cho giận, hờn, căm thù, bất toại nguyện những chuyện hiện tại. Người mới tu cần phải siêng năng tu tập để tâm không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không mơ ước về tương lai.

Người tu sĩ Phật giáo (ĐườngVề.1) sống một cuộc sống bình thường như mọi người đang sống, nhưng họ đã lìa xa lòng ham muốn và các ác pháp. Người nào hiểu đúng và biết cách sống đúng “ly dục ly ác pháp” sẽ có tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Ðó chính là, người có hữu duyên với chánh pháp của đạo Phật, bằng ngược lại thì đó là vô duyên hoặc gặp tà pháp, hoặc có duyên với tà pháp. Vô duyên không gặp chánh Phật Pháp, còn hơn là những người hữu duyên mà gặp tà pháp của ngoại đạo.

Người tu tập Tứ Chánh Cần (TâmThư.1) suốt trong 30 phút vẫn còn một niệm khởi thì không được tăng lên 01 giờ mà phải tu 30 phút cho hết sạch niệm.

Người tu thập thiện (10Lành) thường chế ngự lòng buông lung của mình, bỏ các nghiệp dữ, quyết thành tựu các nghiệp lành, đó là thuận theo chánh đạo. Chỉ có người trí mới ý thức sự lợi ích của thể hiện thập thiện đối với cuộc sống. Nhờ sự hành thiện, chúng ta mới thoát khỏi sự khổ đau, cứ mỗi lần bỏ xuống một nghiệp ác thì ngay đó nghiệp thiện hiện ra khiến tâm hồn mình được an vui.

Người tu theo đạo Phật (ĐườngRiêng)(TêNgưu) làm chủ tất cả dục và các ác pháp trong khi họ đang sống bình thường như mọi người; khi dục và ác pháp đến với họ thì họ dùng tri kiến hiểu biết ngăn và diệt dục và ác pháp ra khỏi thân tâm với một nụ cười hồn nhiêu trong sáng như một người vô sự không vướng bận một việc gì trên thế gian này. Người tu theo Phật giáo là người tìm sự giải thoát ngay liền trong cuộc sống hằng ngày, họ sống không tách lìa xã hội loài người, không phải vào non vào núi mới tu tập được, nên mới có câu: “Phật pháp không ly thế gian pháp”. Người tu theo Phật giáo cùng sống chung nhau trong một xã hội loài người mà tâm họ không lưu ý đến sự sống của ai, họ chỉ biết sống và giữ gìn tâm bất động của họ mà thôi cho nên tâm họ luôn luôn không phóng dật, đức Phật nói: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”. Người tu theo Phật giáo là người làm chủ thân tâm này, ví như có người chửi mắng, nói xấu hay nói oan ức một điều gì thì tâm vẫn thản nhiên không buồn phiền, không giận hờn, oán ghét, thù hận, v.v... Cũng như khi thân bệnh tật đau nhức khổ sở mà tâm vẫn thản nhiên không lo lắng, không sợ đau nhức gì cả. Trước mọi cảnh lúc nào tâm cũng bất động thanh thản an lạc và vô sự, không hề biết sợ hãi, lo lắng; không hề nghĩ thân bệnh đau là quan trọng, là sẽ chết mất, v.v... Ðiều quan trọng của người tu theo Phật giáo chỉ là Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự, nếu để mất Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự thì được xem là người chiến bại trong mặt trân sanh tử luân hồi, còn ngược lại giữ gìn Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự không mất thì đó là người dũng sĩ chiến thắng giặc sanh tử, luân hồi. Khi chúng ta sống chung với tất cả mọi người, nhưng không ai làm cho chúng ta giận hờn, buồn phiền, luôn luôn tâm biết đủ, không ham thích một vật gì trong thế gian này nữa, nhất là đứng trước những sự nguy hiểm như tai nạn, như bệnh tật nan y, những cơn đau như sắp chết chúng ta vẫn thản nhiên tâm không giao động, run sợ chút nào cả. Ðây là dạy về tâm của người tu sĩ, nếu tâm niệm của người tu sĩ còn sân giận, khi nghe người ta nói trái ý nghịch lòng, hoặc nói vu oan cho mình những điều mà mình không làm, nhưng lúc bấy giờ tâm vẫn thản nhiên không khởi niệm biện minh lý luận sai đúng cho mình mà luôn luôn tươi cười tha thứ thì đó là người sống Ðộc cư như con tê ngưu một sừng.

Người ưa hý luận (Phậtdạy.3) người hay dùng kiến giải lý luận nghĩa này, nghĩa kia, thường dựa vào ý hay lời đẹp của kinh sách đời hoặc đạo, rồi đem ra tranh luận hơn thua, để chứng tỏ mình là người lão thông thiên kinh vạn điển, để chứng tỏ mình là người giỏi, người hay. Người thích học hỏi để hý luận, để vấn nạn người khác, để tỏ ra mình là người thông suốt kinh điển và Thiền định, là hạng người kiến chấp, ngã chấp.

Người xuất gia (TâmThư.2) là bỏ hết cuộc đời đau khổ của thế gian, danh lợi không còn màng, chỉ còn tìm cầu một hướng sống giải thoát ra khỏi nhà sinh tử luân hồi mà thôi. Người xuất gia là người buông xuống hết không còn gì để vướng bận, dù thiện, dù ác hay dù là ái kiết sử, đời sống chỉ còn ba y, một bát, luôn sống chuyên tu với những người đồng một chí hướng xuất gia tìm sự giải thoát chứ không thể sống với những người tại gia và những người xuất gia mà danh lợi còn đầy ấp. Người xuất gia là người chỉ còn duy nhất một lòng thương yêu rộng lớn vô bờ bến, ai có làm hại mình, nói xấu mình cũng đều thương họ, thương thật sự, chứ không phải thương ngoài đầu môi, chót lưỡi. Người xuất gia tu hành theo Phật giáo biết rất rõ những người hại mình, những người nói xấu mình là những người đang đau khổ, là những người đang ở trong ác pháp, họ đang mang lòng đầy căm tức, hận thù, ghét cay, ghét đắng mình, vì thế họ là những người khổ đau vô cùng, vô tận, họ là những người đáng thương. Người xuất gia tu hành phải tha thứ và thương yêu thật sự trong tận đáy lòng của mình, luôn luôn hướng tâm ước nguyện cho những người này giác ngộ được quy luật nhân quả, hiểu được lý chân thật của Phật giáo thấy rằng những sự đau khổ ấy chính mình tạo ra rồi cũng chính mình gặt lấy. Xuất gia rồi chúng ta không thể sống chung với những người tại gia được, vì nếp sống của người xuất gia không phải là nếp sống của người tại gia.

Người yếm thế (ĐườngVề.2) là người tránh cảnh, tu để tiêu dao, thảnh thơi an lạc không ai quấy rầy. Khi đụng đến đối tượng, bao nhiêu tâm phiền não vẫn còn đầy đủ. “Vì vô minh ta sống viễn ly”, câu này hiểu theo nghĩa khi tâm chúng ta còn tham, sân, si thì nên sống tránh xa mọi người, tìm nơi thanh vắng yên tịnh, để tu tập thiền định, chờ khi nhập các định xong, nhờ các định sẽ quét sạch tâm tham, sân, si, điều này là ảo tưởng. Ðạo Phật không yếm thế, ngay cảnh phiền não, giải quyết tâm mình, buông xả hay viễn ly, tức bồ đề (giải thoát). Nên nhớ trong Bát Chánh Ðạo, Chánh Ðịnh không bao giờ đi trước Chánh Kiến, Chánh Tư Duy và Chánh Ngữ…

 

vần Ngh

Nghe Diệu Pháp (Tạoduyên) nghe chân pháp của Phật.

Nghe nhiều (PhậtDạy.4) có nghe nhiều hành trì nhiều, nghe nhiều tu tập mới không sai pháp. Trong sự hành trì pháp nghe nhiều là một điều lợi ích lớn cho bước đường tu tập. Khi bắt đầu hành trì phải thưa hỏi một vị thầy đã tu tập xong, được nghe rất nhiều kinh nghiệm bổ ích trong sự tu tập của vị Thấy ấy.

Nghề ác (ĐườngVề.1) không phù hợp với tâm từ bi của đạo Phật. Có sáu nghề ác: 1/. nghề săn bắn vì giết hại biết bao nhiêu loài cầm thú rừng: nai, hươu, khỉ, chồn, heo, gà rừng và các loại chim chóc khác nữa v.v... 2/. Nghề chài lưới chuyên bắt tôm cá, giết hại loài thủy tộc. Làm và sử dụng các loại như: rọ, lờ, chài, lưới, vó, câu, v.v... 3/. Nghề buôn bán thịt sống là nghề sát sanh trâu, bò, heo, dê, ngựa, chó, gà, vịt, v.v... giết hại chúng sanh không chút lòng thương xót. 4/. Nghề buôn bán thịt chín là nghề lấy thịt chúng sanh nấu thành thực phẩm như: phở, cháo lòng, hủ tiếu, bánh canh, bì chả, nem, v.v... Người hành nghề này đánh mất tâm từ bi. 5/. Nghề sản xuất và buôn bán rượu, vì khiến người ta nghiện ngập say sưa, không còn trí thông minh. Người say sưa có thể la xóm, mắng làng, chửi vợ mắng con, bất kể cha, mẹ, anh, em ruột thịt, không biết dơ sạch, nằm ngoài đường, ngủ bụi, ngủ bờ, nằm sương nằm nắng, làm mất thể diện con người, thân thể dễ sanh bệnh tật, tạo cảnh khổ đau cho cha, mẹ, anh, em, vợ, con, v.v... 6/. Nghề buôn bán người là nghề mãi nô (bán nô lệ), nghề buôn hương bán phấn (nghề mãi dâm). Nghề này rất độc ác, dùng thế lực, tiền bạc, vật chất bắt ép những người cô thân thất thế đang cảnh nghèo đói bán thân làm nô lệ, làm gái mãi dâm, khiến cho gia đình khổ đau và tan nát. Nghề mãi dâm làm mất nhân phẩm của con người, khiến con người không còn đạo đức và còn tệ hơn loài thú vật, vì con vật có lúc dâm và cũng có lúc không dâm, cho nên kẻ làm nghề bán trôn nuôi miệng là kẻ làm xấu xa thân phận làm người. Những người hành những nghề nghiệp ác này là những người vô minh không thấy luật nhân quả đang chi phối diễn biến từng phút giây trong mỗi con người. Luật nhân quả sẽ không tha thứ một ai, nếu ai đã làm điều ác thì phải hứng lấy hậu quả khổ đau.

Nghề mê tín (CầnBiết.1) là nghề bói khoa, chiêm tinh, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt, xấu dựng vợ gả chồng, làm nhà xây mồ mả, v.v... Nghề mê tín là nghề cúng bái, tụng niệm, cầu siêu, cầu an, làm ma chay, làm tuần cúng vong, tiễn linh, mở cửa mả, đốt tiền vàng mã, và nghề dán kho đụn, quần áo, mũ nón, v.v... Ðó là nghề lừa đảo, lường gạt tín đồ Phật giáo, mà trong kinh sách Nguyên Thủy không bao giờ đức Phật dạy, duy chỉ có kinh sách Ðại thừa mới có dạy điều này mà thôi.

Nghi (CầnBiết.3) là lòng nghi ngờ, ngờ vực, không tin.

Nghi kiết sử (Phậtdạy.3)(TruyềnThống.2) là hạ phần kiết sử. Phiền não do lòng nghi hoặc tức là thấy ai nói hay làm một hành động nào đó rồi cho họ nói xấu mình. Nghĩa là lòng nghi ngờ quá nặng như một sợi dây trói buộc, lúc nào cũng nghi ngờ người này như thế này, người kia như thế khác. Muốn diệt trừ hạ phần kiết sử này thì chỉ có tu pháp môn Tứ Niệm Xứ. Lòng nghi ngờ ấy chỉ có giữ gìn giới luật thì mới bứt sạch.

Nghi nhân (CầnBiết.3) là nghi người.

Nghi pháp (CầnBiết.3) là nghi phương pháp mình đang tu.

Nghi triền cái (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) Là cái màn ngăn che nghi khiến cho ta không thấy, nhưng nghi vẫn còn y nguyên.

Nghiệp (10Lành) Nghiệp thiện hay nghiệp ác đều do Thân, Khẩu, Ý của chúng ta, gồm có ba thứ: Thứ nhất là Thân nghiệp. Thứ hai là Khẩu nghiệp. Thứ ba là Ý nghiệp. Nghiệp căn bản của thân thường xảy ra trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Do tư tưởng hoạt động tác dụng mạnh tạo nên nghiệp thân ấy. Tâm không sáng suốt tức là vô minh tạo ra những duyên hợp nên có thân. Vì vô minh nên tất cả chúng sanh đều mang thân nghiệp; thân nghiệp là biểu tượng vật chất, chịu nhiều thứ bệnh tật. Tâm là phần tinh thần cũng chịu ảnh hưởng của thân; chấp có thân nên khi thân đau ốm thì tinh thần khổ sở, lo lắng, sợ hãi, v.v...

Nghiệp ác (TrợĐạo) hành động thân, miệng, ý làm việc ác, là làm khổ mình khổ người.

Nghiệp ác, thiện (ĐườngVề.9) là luồng khí như bao nhiêu luồng khí khác trong môi trường sống này, khi luồng khí nghiệp lực đó tương ưng với các luồng khí ác, thiện khác đủ duyên hợp lại thành một con người mới. Nói một cách khác cho dễ hiểu là mỗi hành động của chúng ta làm, nói và suy tư đều có một từ trường, từ trường đó thiện hay ác là do hành động thân, miệng, ý ác hay thiện mà thôi.

Nghiệp là duyên của Danh Sắc (12Duyên) Nghiệp là kết quả mọi hành động bằng Thân, Khẩu, Ý của con người tạo ra, ngoài Nghiệp thì không có Danh Sắc. Danh Sắc không có thì Thân, Tâm và Tưởng cũng không có; Thân, Tâm và Tưởng mà có là phải có sự hoạt động, sự hoạt động đó gọi là Hành.

Nghiệp lành của Phật (TâmThư.1) là vô nghiệp (nghiệp thiện vô lậu), nên đức Phật đã thoát ra khỏi luân hồi tái sinh. Nghiệp lành của Phật ra khỏi qui luật nhân quả, nó có một nội lực thâm hậu, do đó nó làm ngược lại qui luật nhân quả, tức là làm chủ sự sống chết, tức là làm chủ nhân quả. Làm chủ nhân quả thì không còn tái sinh luân hồi được. Đời sống của đức Phật, và đệ tử của đức Phật thường ngăn ác diệt ác, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp vô lậu nên luôn luôn sống trong thiện pháp vô lậu, vì thế từ trường vô lậu không tương ưng với các từ trường hữu lậu của môi trường sống trong thế gian nên chấm dứt tái sanh luân hồi.

Nghiệp lành đứng đầu trong Thập Thiện (10Lành) không sát sanh mà còn phóng sanh.

Nghiệp lực của sân (ĐườngVề.9) khi gặp việc trái ý, nghịch lòng, người ấy tức giận giống như một con thú dữ.

Nghiệp nhân (ĐườngVề.9) được huân tập hằng ngày, nghĩa là mỗi ngày được tăng thêm sự phiền não đau khổ hay hạnh phúc an vui. Sự phiền não đau khổ hay hạnh phúc an vui được tăng lên thì gọi là Nghiệp lực. Nghiệp lực có một sức hút rất mạnh. Ví dụ: Khi vừa nghe người khác mạt sát nói xấu mình tức thì nghiệp sân của mình phát khởi rất nhanh. Sự phát khởi rất nhanh của tâm sân gọi là nghiệp lực còn gọi là sức hút của nghiệp sân. Sức hút của nghiệp sân gọi là từ trường, nó cũng giống như từ trường của nam châm. Có sức hút của từ trường nam châm thì phải có cục nam châm và thanh sắt.

Nghiệp nhân quả (ĐườngVề.8) là những niệm sanh khởi trong tâm của chúng ta, do chúng ta huân tập lâu ngày đã thành thói quen (tạp khí), nên thường lăng xăng trong đầu của chúng ta. Chỗ này có rất nhiều người đã hiểu lầm lạc cho những niệm lăng xăng đó là vọng tưởng, nên khi tu hành cứ lo ức chế tâm cho hết vọng tưởng bằng cách ngồi thiền nhiếp tâm trong hơi thở, trong câu niệm Phật, trong mỗi hành động đi, đứng, nằm, ngồi, v.v... Vì hiểu sai nên tu sai. Muốn tâm không phóng dật, tức là không có vọng tưởng thì phải biết gốc của vọng tưởng từ nhân quả thiện ác mà nó có, cho nên đức Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”. Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp tức là tu tập như vậy sẽ không có vọng tưởng, không có vọng tưởng, tức là tâm không phóng dật. Muốn khắc phục được vọng tưởng thì không nên ức chế tướng vọng tưởng trong tâm ta, mà phải dùng pháp Tứ Chánh Cần xả ly tâm tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử thì vọng tưởng sẽ hết, tức là tâm không phóng dật; tâm không phóng dật là tâm định trên thân hay nói cách khác là tâm đã ly dục, ly ác pháp nhập Bất Ðộng Ðịnh.

Nghiệp thiện (TrợĐạo) những hành thân, miệng, ý làm việc lành không làm khổ mình khổ người.

Nghiệp thiện vô lậu (TâmThư.1) là vô nghiệp. Nghiệp lành của Phật, và đệ tử của đức Phật.

Nghiệp Tướng (TrợĐạo)(Tạoduyên) Tất cả những hình tướng sai khác của thân người này với thân người kia do bởi nghiệp từ quá khứ. Người có sắc thân to lớn; người có sắc thân nhỏ bé; người có sắc thân đẹp đẽ, người có sắc thân xấu xí; người có sắc thân trắng trẻo; người có sắc thân đen thui, đen thít, v.v… Đức Phật dạy tri kiến thứ hai về Nghiệp Tướng: Tất cả những hình tướng sai khác của thân người này không giống với thân người kia đều được gọi là Nghiệp Tướng, Tướng Riêng Biệt. Do từ Nghiệp mà có các Tướng riêng này. Các tướng riêng biệt của mỗi người là do làm thiện nhiều hay làm thiện ít hoặc làm ác nhiều hay làm ác ít. Tướng theo nghiệp mà có nên nghiệp đâu thì tướng đấy. Nhờ có tri kiến về Tướng nên chúng ta sống trong chánh nghiệp thường làm những điều thiện và tăng trưởng những điều thiện. Đây là tri kiến về Nghiệp Tướng.

 

vần Nh

Nhà làm tôn giáo háo danh (ĐạoĐức.2) làm cho tôn giáo biến thái, mất gốc, mất hướng đi đúng đắn của tôn giáo đó. "Nhà làm tôn giáo háo danh" không nghĩ đến sự lợi ích của tín đồ, tự kiến giải kinh sách một cách bừa bãi, theo quan niệm riêng tư của mình bằng tưởng giải, lý luận chắp vá, vay mượn tư kiến của người khác để lòe bịp thiên hạ, rằng mình là người có tài, có trí. Nhưng những kiến giải ấy tu tập không có đạt được gì, tài trí đó là thứ danh hão. chỉ để tạo cho "nhà làm tôn giáo háo danh" một danh lớn!

Nhàm chán (ĐườngVề.3) không có nghĩa là chán đời, mà có nghĩa là thấu suốt được vạn pháp không có thực thể, nên tâm không còn tham đắm và dính mắc nó nữa.

Nhãn căn (TâmThư.1) là con mắt.

Nhãn thức (TâmThư.1) là cái biết của con mắt.

Nhãn sắc giới (TruyềnThống.1) là con mắt tiếp xúc với “sắc trần giới”.

Nhãn trần (TâmThư.1) là hình sắc của vạn vật mà mắt thấy.

Nhãn tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là cái nhìn thấy của tưởng uẩn không phải bằng nhãn thức (nhục nhãn) của chúng ta.

Nhãn tưởng thông (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là một loại thần thông của ngoại đạo thấy mọi vật cách xa ngàn dặm, còn gọi là thiên nhãn tưởng thông.

Nhân (PhậtDạy.4) là con người;

Nhân ác (CầnBiết.1)(ĐạoĐức.2) là sự hoạt động thân, miệng, ý của chúng ta hành động ác đem lại sự bất công, bất an, đau khổ, v.v... cho sự sống của chúng ta và của vạn vật sinh linh trên hành tinh này. Chính những hành động ác đó của chúng ta tạo ra nhân quả ác, và nghiệp lực ác chiêu cảm khi chúng ta chết liền sanh ra tất cả loài chúng sanh để trả quả giết hại bằng cách để cho chúng sanh khác giết chúng ta ăn thịt lại. Nếu chúng ta không giết hại và không ăn thịt chúng sanh thì chúng sanh không sanh ra, vì nhân quả thiện nên không có chúng sanh sanh ra để mà ăn thịt lẫn nhau trở lại.

Nhân bản (ĐạoĐức.1) là hành động thân, miệng, ý của con người tạo ra nên gọi là nhân bản, tức là những hành động có gốc nơi thân người.

Nhân cách tương đối (3Qui5Giới) là con người xứng đáng với danh nghĩa con người, nghĩa là phải sống có nghĩa cử lòng nhân, có tình cảm lương tri, có ý thức sáng suốt. Giáo lý Nhân cách tương đối nhắm vào toàn diện đời sống của con người (sanh y). tức là: - 1) Hóa cải bản thân, - 2) Hóa cải gia đình, - 3) Hóa cải xã hội, tức nói đến sự đổi mới con người và những gì của nó, nghĩa là nói đến cả ba phương diện xây dựng “Nhân gian Phật-giáo” (bản thân, gia đình, xã hội).

Nhân cách viên mãn (3Qui5Giới) là thành tựu “Tri giác Vô thượng” (đoạn sạch tham sân si ác pháp, làm chủ sanh, lão, bịnh, tử – Tâm vô lậu, sống thanh thản an lạc – Tứ vô lượng tâm đầy đủ.

Nhân điện tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là người dùng tưởng uẩn điều khiển điện lực trong thân người.

Nhân quả (ĐườngVề.6)(ĐạoĐức.2) theo chữ Hán có nghĩa là hạt giống và bông trái. Nhân quả là hành động và kết quả của hành động. Nếu lấy một hạt cam (là nhân) gieo trồng xuống đất, hạt cam lên thành cây cam (là quả), cây cam lớn lên cho ta những quả cam (là quả), đó nhân, quả của cây cam. Nếu lấy một hạt chanh đem ươm trồng, hạt chanh lên thành cây và cho những trái chanh, đó là nhân và quả của cây chanh. Nhâncủa con người là hành động thân, khẩu, ý. Hành động thân, khẩu, ý là nguyên nhân để sinh ra mọi điều thiện, ác. Quảcủa con người là kết quả, là thọ chịu, là nhận lấy những cảm nhận vui buồn, khổ đau, phiền não, bệnh tật, tai nạn, tật nguyền, v.v... Nhân quả luôn có mặt trong ba thời: quá khứ, vị lai và hiện tại, nó tiếp diễn trùng trùng duyên khởi, trùng trùng duyên sanh và trùng trùng duyên diệt theo lý nhân quả duyên khởi, duyên sanh, duyên diệt. Ðó là một nhân có nhiều quả và một quả có nhiều nhân. Nếu chúng ta làm một điều ác, thì kết quả sẽ đem đến không những cho chúng ta, mà còn cho nhiều người khác những sự khổ đau, phiền muộn, tức giận, hận thù, oán ghét, tạo ra nhiều điều tội lỗi, v.v... Nếu chúng ta làm một điều thiện, thì kết quả sẽ mang đến không những cho chúng ta, mà còn cho nhiều người khác sự an vui, hạnh phúc. Luật nhân quả là một đạo luật của vũ trụ, là một phép tắc được quy định theo sự hoạt động tự nhiên của vũ trụ, để quân bình trật tự an toàn của các hành tinh trong không gian.

Nhân quả cận tử nghiệp báo (TâmThư.1) Nghiệp báo cận tử nghiệp lúc người sắp lâm chung hiện ra rất rõ bằng trong giấc mộng, bằng những hình ảnh do tưởng uẩn hiện ra. Ví dụ 1: Một người đồ tể thường giết trâu bò chó gà heo dê khi sắp chết thấy chúng đến cắn xé đòi mạng Vì du 2: Một người làm từ thiện hay giúp đỡ người khi sắp chết, đều thấy mình làm từ thiện và mọi người vui vẻ tỏ lòng biết ơn. Cận tử nghiệp là nghiệp cuối cùng của thân mạng này, nên sống như thế nào thì sắp chết thấy như thế nấy, sống thiện thấy thiện, sống ác thấy ác…

Nhân quả hiện kiếp (ĐạoĐức.1) tức là do hành động thiếu đạo đức nhân bản - nhân quả trong hiện tại.

Nhân quả hiện tại nghiệp báo (TâmThư.1) muốn được lúa phải cày bừa gieo mạ; muốn giàu sang phải bố thí; muốn sống lâu phải làm lành; muốn được trí tuệ phải học hành nghiên cứu … giết sinh mạng cứu sinh mạng làm cho người tiến mau đến cõi chết, tức là tự giết mình, đau bệnh thì uống thuốc, đau bệnh thì nghe pháp để trừ tâm bệnh; muốn sống lâu thì phải cứu mạng cho tất cả sinh linh. Đau bệnh mà cầu đảo thì ngu dốt. Cho nên người giết loài vật để ăn thịt mà mong cầu bổ khoẻ bình an thì không bao giờ có.

Nhân thiện (ĐạoĐức.2) là sự hoạt động thân, miệng, ý của chúng ta hành động thiện đem lại sự no ấm, an ổn, yên vui, hạnh phúc, … cho sự sống của mình và của vạn vật sinh linh trên hành tinh này.

Nhân thừa (3Qui5Giới) là Thọ Tam Quy và Trì Ngũ Giới.

Nhân từ (PhậtDạy.4) Nhân là con người; từ là lòng yêu thương.

Nhân tướng (ĐườngVề.6)(CầnBiết.2) là hình dáng cơ thể con người, có người có nhân tướng cao, nhưng cũng có người có nhân tướng thấp, người đẹp, người xấu, người trắng, người đen, người mập, người ốm, người mặt dài, mặt ngắn, mặt vuông, mặc chữ điền, mặt bầu, mặt tròn... Tất cả mọi hình tướng khác nhau đều gọi là nhân tướng. Người tu theo đao Phật không nên vì nhân tướng mà tu tập hay ước mơ có một nhân tướng tốt đẹp như 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp như đức Phật có còn đâu khi đức Phật nhập Niết bàn, chỉ còn lại một nắm xương vụn bất tịnh thiêu chưa cháy hết. Mục đích của đạo Phật là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ chứ không phải là tướng tốt. Dưới đôi mắt của Phật thì nhân tướng của con người chỉ là tứ đại duyên hợp, bất tịnh, uế trược, không có đáng cho chúng ta quan tâm. Nhưng trong khi tu tập, chúng ta phải biết sử dụng nó như một con ngựa để đi đường xa vạn dặm. Vì thế, chúng ta phải biết cách khi thì dụ dỗ nó, khi thì ra lệnh, chứ không bắt ép thân tu tập nhiều không tốt, mà tu tập ít thì cũng không có lợi, không được khổ hạnh ép xác, mà cũng không được lợi dưỡng phá giới luật. Phải tùy theo đặc tướng của mình mà thực hiện cho đúng pháp, thì có kết quả lợi ích rất lớn.

Nhân tướng của hành thọ (ĐườngVề.6) là sự tăng giảm hoạt dụng cảm nhận, cảm giác, khinh an, hỷ lạc, thanh thản, thoái mái, hoặc đau nhức, khó chịu và sự rung động trong nội ngoại của thân.

Nhân tướng ngoại của tâm (ĐườngVề.6) là những tướng trạng khởi lên trong đầu chúng ta đang giải quyết một vấn đề gì trong hiện tại. Kinh sách Ðại Thừa gọi là vọng tưởng, Thiền Ðông Ðộ gọi là niệm thiện niệm ác, kinh sách Nguyên Thủy gọi là nhân tướng ngoại của tâm hay còn gọi là tác ý hoặc gọi là Tứ.

Nhân tướng nội của thọ (ĐườngVề.6) là cảm thọ hành bên trong, hay nói cách khác cho dễ hiểu là sự cảm nhận, cảm giác sự hoạt dụng hỷ lạc, khinh an và đau nhức bên trong của thân.

Nhân tướng ngoại của thọ (ĐườngVề.6) là sự cảm thọ bên ngoài, hay nói một cách khác cho dễ hiểu là sự cảm nhận, cảm giác sự hoạt dụng hỷ lạc khinh an và đau nhức bên ngoài của thân.

Nhân tướng nội của các pháp (ĐườngVề.6) là hình trạng và tính chất bên trong của các pháp. Các pháp nghĩa là vạn vật trong thế gian, là tất cả vạn hữu có hình tướng hoặc không hình tướng. Ví dụ: thân ta là một pháp, cái nhà là một pháp, bàn, ghế, tủ, giường, cây, cỏ, rừng, núi, sông, rạch, v.v... mỗi thứ là một pháp. Mỗi pháp đều có hình tướng và tính chất riêng của nó. Ví dụ: cây có hình trụ thẳng đứng, cao, tính chất của nó cứng. Cỏ có hình tướng thấp, ngả nghiêng, tính chất nó mềm yếu, v.v… Nhân tướng nội của bên trong thân người là: tim, gan, phèo, phổi, mật, lá lách, v.v… Nhân tướng ngoại của thân người là: da, lông, tóc, móng tay, móng chân, v.v…

Nhân tướng nội của tâm (ĐườngVề.6) là những niệm vi tế. Nhân tướng nội của tâm là những hình tướng của tâm khởi hiện bên trong thân. Niệm vi tế là những niệm khởi lên trong đầu chúng ta, phản ảnh được tâm trạng của chúng ta trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, thể hiện trong hai thời gian: quá khứ và vị lai. Mỗi niệm khởi lên mang theo tính chất thiện hoặc ác. Thiền Ðông Ðộ gọi là niệm thiện niệm ác, kinh sách Ðại Thừa gọi là vọng tưởng, kinh sách Nguyên Thủy gọi là nhân tướng nội của tâm, còn có một danh từ nữa gọi là Tầm. Nói cho dễ hiểu đó là những vọng tưởng sanh khởi liên tục trong tâm của chúng ta.

Nhất tâm (PhậtDạy.1)(Phậtdạy.3)(PhậtDạy.4)(CầnBiết.3)(CầnBiết.4) là “tâm ly dục ly ác pháp”. Giới là pháp môn ly dục ly ác pháp, vì thế khi tâm ly dục ly ác pháp thì tâm nhập Bất Ðộng Tâm Ðịnh. Bất Ðộng Tâm Ðịnh không phải chỉ biết hít vô thở ra không có vọng tưởng. Khi tâm bất động, tâm định trên thân hành tức là thân động dụng chỗ nào là tâm hay biết liền. Tâm ly dục ly ác pháp là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ, cho nên Đức Phật gọi là “Bất Động Tâm Định”. Đức Phật dạy: “Nhất tâm là định”,chứ không phải nhất tâm là tâm “không vọng tưởng, tâm không niệm thiện niệm ác”. Nhất tâm là tâm định trên thân. Tâm định trên thân, như Phật đã dạy: “Thân hành niệm trong tất cả thời không mất oai nghi” nghĩa là đi tôi biết tôi đi, đứng, nằm, ngồi hay hít thở đều biết không quên. Đó là thân hành niệm. Thân hành niệm là một pháp môn tuyệt vời trong Tứ Niệm Xứ, không những nó là một pháp môn tu tập nhất tâm mà còn là pháp môn tu tập có đủ mười công đức (thần lực siêu việt không thể nghĩ lường). Đó là chúng ta tu tập pháp xả tâm.

Nhận đạo Thánh Hiền quyết dứt hết gốc khổ (PhậtDạy.4) Thánh là người đã sống trọn vẹn đức hạnh nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người; Hiền là người đang tập sống đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai. “Nhận đạo Thánh hiền quyết dứt hết gốc khổ” là chấp nhận học tập và rèn luyện đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh.

Nhận sự cúng dường đúng chánh pháp (ĐườngVề.9) thì không được nhận tiền, bạc, vàng, châu báu, y áo vải hàng tốt đẹp mà phải bằng vải hàng thô xấu.

Nhập định (PhậtDạy.4) là khi nào tâm hết tham, sân, si; phải tu tập Tứ Chánh Cần trong bốn oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi, để xả tâm ly dục ly ác pháp và từ bỏ từng niệm tham, sân, si, mạn, nghi chứ không phải ngồi kiết già cho hết niệm khởi. Hằng ngày luyện tập, tu tập, tái tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp (Tứ Chánh Cần) là đã tu tập thiền định của Phật giáo.

Nhập định an trú (TâmThư.1) thì hơi thở nhẹ nhàng không phát ra tiếng động, thân bất động không giựt mình, nếu người không tu tập hoặc tu tập mà chưa nhập vào sức tỉnh thức cao thì khó phân biệt người ngủ và người an trú. Cho nên thấy ai ngồi bất động đều cho là ngủ là sai. Người an trú đúng pháp thì đầu không cúi, người an trú không đúng pháp thì rơi vào xúc tưởng hỷ lạc đầu hơi cúi, lưng thụng.

Nhập định của Phật giáo (CầnBiết.5) là tu tập để được an trú trong tầm thiện. Phương pháp thứ nhất: Khi trong thân, thọ, tâm, pháp của chúng ta có ác pháp xâm chiếm, thì phải tác ý một tướng khác tướng ác đó, tức là một tướng thiện, tướng thiện là một tướng đi ngược lại với tướng ác đó. Nhờ có tác ý một tướng thiện đối trị lại tướng ác đó, nên tướng ác đó bị đoạn trừ và tiêu diệt, lúc bây giờ tâm chúng ta mới đẩy lùi chướng ngại pháp, tức là ngăn ác, diệt ác pháp để tâm được an trú trong tầm thiện, để được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh tức là nhập định. Phương pháp thứ hai: dùng quán tư duy để ngăn ác diệt ác pháp, để tâm được an trú trong tầm thiện, tức là an trú trong định. Phương pháp thứ ba: là ngăn ác diệt ác pháp, để tâm ly dục ly ác pháp nhập bất động tâm (Sơ thiền), do ly dục tầm mới được tầm tứ thiện, mới được nhất tâm, định tỉnh. Phương pháp tu tập này cũng giống như người không muốn nhìn thấy các sắc pháp nên nhắm mắt hoặc nhìn chỗ khác. (phòng hộ các căn không để tâm phóng dật). Phương pháp thứ tư: bằng cách tác ý các hành trong thân và giảm các hành dần để đi đến an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh, nhờ có an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh thì tâm mới không phóng dật, tâm không phóng dật thì tâm mới ly dục, ly ác pháp. Phương pháp thứ tư ngăn ác diệt ác pháp này được xem là pháp môn tu tập trong Thân Hành Niệm để an trú tầm thiện và rất có hiệu quả khi một người có nhiệt tâm tu hành. Phương pháp thứ năm: phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng. Lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân và si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Phương pháp này thường gọi là niệm lực hay là pháp gom tâm vào tụ điểm để nhẫn nhục trước các ác bất thiện pháp, để diệt trừ tâm loạn động, để diệt trừ tâm si mê ham ngủ nghỉ (hôn trầm thùy miên vô ký), để diệt trừ tâm tham dục, để diệt trừ tâm đang tức giận, để diệt trừ tâm đang khi thân bị bệnh khổ, v.v... là phương pháp chống trả lại các ác pháp rất mãnh liệt để tận diệt cho bằng được các ác bất thiện pháp.

Nhập được vào Tứ thiền (CầnBiết.2) khi ấy thân và tâm trở thành bất động trước các pháp, vì lúc đó đã an chỉ tất cả hành, viễn ly tất cả ý. Nhập được vào trạng thái này, chúng ta không còn tham ái nữa. An trú vững chắc trong Tứ thiền, hành giả hướng tâm tới sự đoạn tận các lậu hoặc, đoạn trừ các kiết sử trói buộc, hành giả hướng tâm đếnTam minh, thực hiện giai đoạn cuối cùng của Tam vô lậu học.

Nhập lưu (PhậtDạy.4) là nhập vào dòng Thánh, là nhập vào giới luật làm tâm bất động, chừng nào giới luật là mình, mình là giới luật, chừng đó mới được gọi là vào dòng Thánh. Nếu tâm không bất động thì chưa nhập lưu. Nếu xem giới luật là chiếc bè sang sông thì tâm sẽ không bao giờ bất động được, không bao giờ nhập vào dòng Thánh được.

Nhập Nhị Thiền (ĐườngRiêng) Sau khi nhập xong Sơ Thiền, xuất ra khỏi Sơ Thiền liền về trạng thái tâm vô lậu. Khi ở trong trạng thái tâm vô lậu liền dùng câu Trạch Pháp Giác Chi: “diệt tầm tứ chứng và trú Thiền Thứ Hai (nhập Nhị Thiền) một trạng thái hỷ lạc do định sinh không tầm, không tứ, nội tỉnh nhất tâm”. Ngay khi tác ý xong thân tâm liền nhập vào Nhị Thiền, sáu thức ngưng hoạt động hoàn toàn chỉ còn có một trạng thái hỷ lạc do định của Nhị Thiền sinh ra, gồm có: 1- Hỷ do định sinh. 2- Lạc do định sinh. 3- Nội tỉnh nhất tâm tức là tỉnh giác vào nội thân tâm. Ở trạng thái Nhị thiền thì sáu thức bị diệt nên không còn hoạt động. Vì thế, muốn xuất ra khỏi hay nhập vào Nhị Thiền phải dùng Ðịnh Như Ý Túc. Dùng Ðịnh Như Ý Túc là phải sử dụng Trạch Pháp Giác Chi.

Nhập Sơ thiền (ĐườngRiêng) Khi thành tựu pháp môn Tứ Niệm Xứ thì ngay trên trạng thái tâm vô lậu của Tứ Niệm Xứ đã tìm thấy Tứ Thần Túc. Khi có Tứ Thần Túc liền dùng ngay câu Trạch Pháp Giác Chi: “Tâm ly dục ly ác pháp chứng và trú thiền Thứ Nhất (nhập Sơ thiền) một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, với tầm, với tứ” tức thì thân tâm nhập vào một trạng thái Sơ Thiền có năm chi thiền hiện ra rõ ràng: 1- Tầm, 2- Tứ, 3- Nhất tâm, 4- Hỷ, 5- Lạc.

Nhập Tam Thiền (ĐườngRiêng) Sau khi nhập xong Nhị Thiền, liền xuất ra khỏi Nhị Thiền bằng Ðịnh Như Ý Túc và trở về trạng thái tâm vô lậu. Khi ở trạng thái tâm vô lậu liền dùng Trạch Pháp Giác Chi: “Ly hỷ trú xả chánh niệm tỉnh giác thân cảm nhận sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba (nhập Tam Thiền)” tức thì thân tâm nhập Tam Thiền. Muốn nhập được thiền thứ ba thì dùng Ðịnh Như Ý Túc truyền lệnh xả các loại tưởng hỷ, lạc. Các loại tưởng hỷ, lạc khi nhập vào Nhị thiền là do định sinh, khi xả hỷ, lạc tưởng đó thì vào trọn vẹn được Tam Thiền. Ở trạng thái Tam Thiền thì sáu thức bị diệt nên không còn hoạt động. Vì thế, muốn xuất ra khỏi hay nhập vào Tam Thiền phải dùng Ðịnh Như Ý Túc. Dùng Ðịnh Như Ý Túc là phải sử dụng Trạch Pháp Giác Chi.

Nhập Tứ Thiền (ĐườngRiêng) phải dùng Ðịnh Như Ý Túc là phải sử dụng Trạch Pháp Giác Chi: “Xả lạc, xả khổ diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền Thứ Tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu và xả niệm thanh tịnh luôn. Như vậy, nhập Tứ Thiền là xả tất cả các cảm thọ. Muốn xả các cảm thọ thì phải tịnh chỉ hơi thở. Cho nên nhập Tứ Thiền còn có một câu Trạch Pháp Giác Chi rất tuyệt vời: “Tịnh chỉ hơi thở nhập Tứ Thiền ”. Ðạo Phật rất tuyệt vời là làm chủ được hơi thở, muốn nó thở là nó thở, muốn nó dừng là nó dừng thở. Làm chủ được hơi thở là làm chủ được mạng sống của mình. Ngoài thiền thứ tư này thì không có pháp môn nào làm chủ được hơi thở. Cho nên Tứ Thiền của đạo Phật là phương pháp làm chủ được mạng sống của mình. Vì vậy mục đích nhập Thiền Thứ Tư là làm chủ sự sống chết. Ở trạng thái Tứ Thiền thì sáu thức bị diệt nên không còn hoạt động. Vì thế, muốn xuất ra khỏi hay nhập vào Tứ Thiền phải dùng Ðịnh Như Ý Túc. Dùng Ðịnh Như Ý Túc là phải sử dụng Trạch Pháp Giác Chi.

Nhẫn nhục (Tạoduyên) làm vui lòng mọi người, không chống trái với nhau.

Nhị Thiền (PhậtDạy.1)(ĐườngVề.6)(GiớiĐức.1) diệt tầm tứ bằng cách dùng pháp hướng tâm Tứ Thần Túc theo đường dây hơi thở, theo như phương pháp Ðức Phật đã dạy: “Muốn nhập Nhị Thiền thì định niệm hơi thở khéo tác ý”. Khi nhập Nhị Thiền thì miệng không còn ăn và nói chuyện, có nghĩa là miệng không còn hoạt động. Do từ chỗ Tầm tứ diệt là khẩu hành diệt ta suy ra và biết ngay tầm tứ diệt là sáu thức diệt, có nghĩa là khi nhập Nhị Thiền thì người nhập định không phải giống như cây đá vô tri, vô giác, không phải giống như thây ma người chết. Trong Nhị Thiền “Ðịnh sinh hỷ lạc”. Vậy, cái gì còn biết hỷ lạc khi sáu thức bị ngưng hoạt động. Cái biết trong Nhị Thiền là cái biết của tưởng thức, là nhờ thức uẩn hoạt động. Khi ngủ thì sáu thức không hoạt động nên mới có chiêm bao. Trong chiêm bao, tưởng thức là cái biết, nghe, thấy và cảm nhận! Nhập Nhị Thiền, nói cho dễ hiểu là nhập vào thế giới chiêm bao, là thế giới tưởng. Cho nên, nhập Nhị Thiền là nhập vào trạng thái của tưởng căn (nhóm tế bào tưởng trong não) do tưởng uẩn hoạt động. Nhị Thiền thì khép kín sáu thức nên tầm tứ tịnh chỉ, tức là sáu thức ngưng hoạt động, tâm hoàn toàn nhập định. Nhị Thiền làm chủ sự vô thường (già), thuộc về thân.

Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền (ĐườngVề.2) thuộc về định của bậc Thánh.

Nhĩ căn (TâmThư.1) là lổ tai.

Nhĩ thức (TâmThư.1) là cái biết của lổ tai.

Nhĩ trần (TâmThư.1) là âm thinh của vạn vật mà tai nghe được.

Nhĩ tưởng (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là cái nghe âm của tưởng uẩn không phải bằng nhĩ thức (nhục nhĩ) của chúng ta.

Nhĩ tưởng thông (Phậtdạy.3)(CầnBiết.4) là một loại thần thông của ngoại đạo, nghe âm thanh xa ngàn dặm còn gọi là thiên nhĩ tưởng thông.

Nhiếp hộ sáu căn (ĐườngVề.6) là giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, đừng để cho sáu căn chạy theo sáu trần. sáu căn chạy theo sáu trần tức là tâm phóng dật. Trước khi tu tập thì bạn còn lao động làm việc này, việc nọ, nhưng khi đã tu tập, mà bạn còn lao động làm việc này, việc nọ, thì đó là không phòng hộ sáu căn. Do đó, con đường tu của bạn chẳng ích lợi gì thiết thực cho bạn. Chỉ vì không nhiếp hộ sáu căn, nên mới sinh ra việc làm này, việc làm khác. Tâm phóng dật thì dù có hiểu rộng biết nhiều kinh điển của Phật cũng chẳng có lợi ích gì, chẳng thấy được sự giải thoát nào. Chẳng nếm được mùi vị giải thoát của Ðạo.

Nhiếp phục (Đường Về.7)(TâmThư.1) là thu phục làm cho phục tùng; làm cho đầu hàng; làm cho không còn chướng ngại pháp và ác pháp nữa; làm cho không còn phá phách; làm cho không còn đau khổ; làm cho không còn phiền não; làm cho không còn giận hờn tham, sân, si, mạn, nghi nữa.

Nhiếp phục bệnh (ĐườngVề.3) tức là tác ý ngay bệnh đau đó ra khỏi thân tâm, như đức Phật đã dạy: “Tác ý một tướng khác thì tướng kia bị diệt”. Tác ý đuổi bệnh ra khỏi thân, cơn đau giảm từ từ, đó không phải là tưởng.

Nhiếp phục mọi tham ái ưu bi trên đời (PhậtDạy.4)(CầnBiết.5) là làm cho mọi sự ham muốn, sầu khổ và bệnh tật khổ đau trên cuộc đời này không còn nữa. Như vậy các bạn biết rằng năm cụm từ này là để chỉ cho một phương pháp làm chủ những sự đau khổ của kiếp người tức là làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Nhiếp phục sợ hãi và hận thù (12Duyên) bằng năm giới cấm là năm phương pháp cơ bản nhất của Phật giáo để ra khỏi mọi sự khổ đau vì sợ hãi và hận thù: 1.- “Đoạn tuyệt sát sanh, 2.-“Đoạn tuyệt lấy của không cho, 3.- “Đoạn tuyệt sống tà hạnh trong các dục vọng, 4.- “Đoạn tuyệt nói láo, 5.- “Đoạn tuyệt uống rượu.

Nhiếp phục tâm (PhậtDạy.4) Khi tâm có điều gì khiến tâm khởi tham, sân, si thì quyết định dừng lại một cách kiên cường dũng mãnh, không để một phút giây tham, sân, si trong tâm mình tác động.

Nhiếp tâm và an trú tâm (MuốnChứngĐạo)(TâmThư.1) là không còn có một niệm nào xen vào trong hơi thở, và lúc bấy giờ tâm chỉ duy nhất biết có hơi thở ra vào một cách nhẹ nhàng, thoải mái và dễ chịu. Muốn nhiếp và an trú được tâm thì giới luật phải sống nghiêm chỉnh và còn phải tu tập Ðịnh Vô Lậu, thì tâm sẽ ly dục ly ác pháp. Nhờ có ly dục ly ác pháp thì tâm tham, sân, si, mạn, nghi sẽ bị diệt trừ,tâm sẽ nhiếp và an trú. Tu tập đúng pháp thì khi ngồi thiền nhiếp tâm và an trú tâm một cách dễ dàng, tâm không niệm.

Nhiệt tâm (ĐườngVề.1) là làm tích cực hết sức của một người quyết chí đi tìm đường giải thoát, nếu người quyết chí đi tìm đường giải thoát mà không có nhiệt tâm thì sự tu hành chỉ hoài công vô ích mà thôi. Không có nhiệt tâm thì đừng nên tu theo đạo Phật vì đã chẳng ích lợi cho mình mà còn hại đạo Phật thêm. Nếu trên đường tu tập mà ai không có nhiệt tâm xả bỏ xa lìa ác pháp và lòng ham muốn của mình, thì kết quả chẳng ra gì.

Như chơn (12Duyên) nghĩa là Tâm bất động. Tâm bất động là thiền định.

Như Lai (PhậtDạy.1)(CầnBiết.3) một danh hiệu của đức Phật, có nghĩa là vì theo con đường như thật đi tới mà thành Chánh Giác. Như Lai cũng có nghĩa là bậc tu hành đã xong, không còn tái sinh trở lại cuộc đời này nữa tức là đã làm chủ sinh, tử và chấm dứt luân hồi. Như Lai là “Đức Thánh Không Đến Không Đi”.

Như lý cầu tài (3Qui5Giới) là tùy điều kiện phải làm việc siêng năng cần mẫn, tạo dựng sản nghiệp tiền của một cách hợp lý, hợp đạo. Phụ vào điều nầy có hai điều: - Phải học biết nghề nghiệp - Phải chi tiêu hợp lý. Sự chi tiêu tài sản gọi là hợp lý phải chú ý vào những điều sau đây: Một phần chi dụng, một phần sanh lợi, một phần phòng hộ, một phần công ích và góp phần vào sự truyền bá Phật-pháp bằng hai phương diện: Cúng dường Tam Bảo và phổ biến chánh pháp.

Như Lý Tác Ý Dẫn Tâm Vào Đạo (Phậtdạy.3)(12Duyên)(TrợĐạo)(TâmThư.1) là pháp môn dẫn tâm vào Đạo. Như Lý Tác Ý Dẫn Tâm Vào Đạo là một phương pháp để làm chủ Sanh, Già, Bệnh, Chết. Nếu một người chịu khó tu tập một thời gian, khi pháp này đã trở thành một Năng Lực Của Ý Thức thì tất cả các pháp ác xâm chiếm vào thân hay tâm đều bị nó đẩy lui ra khỏi. Khi bị thọ (lạc, khổ) tác động thân tâm, chúng ta đều tác ý sống trong niệm thoát ly các thọ thì ngay đó đều lìa xa tâm tham, sân, si, mạn, nghi. Bởi vậy, con đường tu tập để được thoát khổ thì chỉ có phương pháp Như Lý Tác Ý Dẫn Tâm Vào Đạo, nhờ đó trong bất cứ ác pháp nào thì chúng ta luôn luôn sống trong niệm thoát ly các cảm thọ, nên tâm được giải thoát hoàn toàn. Như lý tác ý là đệ nhất pháp diệt lậu hoặc. Nhờ pháp môn như lý tác ý này mà xả được 18 loại hỷ tưởng, ổn định được thần kinh. làm chủ được bốn sự khổ đau của kiếp người: sanh, già, bệnh, chết. Như Lý Tác Ý để giữ gìn thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự khi bị các cơn đau tác động vào thân tâm, dù cơn đau như ai cắt ruột, như ai banh da, xẻ thịt cũng chẳng hề dao động, phải bình tĩnh sáng suốt trước giờ ra đi; trước lúc chia tay với mọi người để đi vào lòng đất.

Như lý tác ý năm thủ uẩn (Phậtdạy.3) là pháp môn Tứ Niệm Xứ đạt được tâm định tỉnh nhu nhuyễn, dễ sử dụng; tu tập như vậy sẽ chứng từ quả Dự Lưu đến quả A La Hán. Nếu không có pháp như lý tác ý thì sẽ tu thiền định tưởng của ngoại đạo, chứ không phải thiền định của Phật giáo (Chánh Ðịnh). Người nào dùng ý thức tu tập pháp như lý tác ý để ly tham, đoạn diệt ác pháp, là không tu sai Phật Pháp.

Những bức tâm thư (TâmThư.1) Bộ sách hai tập, góp nhặt từng bức tâm thư của Thầy gửi về tu viện, gồm những lời khuyên dạy bảo tu tập của Thầy theo đúng chánh pháp của đức Phật, nói lên đạo đức nhân bản – nhân quả hiếu sinh, một đạo đức tình thương đa hướng rộng lớn vô biên. Tình thương của một vị Thầy ban tặng cho loài người và muôn vật trên hành tinh này để đem lại sự sống bình an yên ổn.

Những gì thông suốt cần phải thông suốt (12Duyên)(TâmThư.2) là người phật tử phải thông suốt giới luật đức hạnh của Phật giáo, hiểu biết thông suốt liễu tri ngũ uẩn (là các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều là các pháp vô thường, để tâm không dính mắc chấp trước, vì nhờ thông suốt liễu tri như vậy nó sẽ giúp chúng ta đoạn tận tham, sân, si. Ðoạn tận tham, sân, si là giải thoát.

Những gì tu tập cần phải tu tập (TâmThư.2) là những pháp môn cần phải tu tập mà đức Phật đã dạy.

Nho giáo và Lão giáo (ChùaAm) là hai tôn giáo lớn của người Trung Quốc. Nho giáo do Khổng Tử chủ trương thuyết tam cang và ngũ thường, còn Lão giáo do Lão Tử chủ trương thuyết vô vi. Hai nhà đại hiền triết tư tưởng lớn này của Trung Quốc đã triển khai nền văn hóa đạo đức của người Trung Quốc, mà từ xưa đến nay người Trung Quốc vẫn một lòng tôn kính xem hai vị này như những bậc thầy của mọi người trong thiên hạ. Các nhà sư Phật giáo Trung Quốc chịu ảnh hưởng văn hóa tư tưởng triết học của Nho giáo nên từ sự hiểu biết đó đã chuyển thành nền văn hóa đạo đức Phật giáo Trung Quốc cho tốt đẹp hơn. Nhưng không ngờ chịu ảnh hưởng cúng tế của Nho giáo mà các nhà sư Phật giáo Trung Quốc lại biến nền văn hóa đạo đức Phật giáo Trung Quốc thành một nền văn hóa đạo đức Phật giáo mê tín. Dòng văn hóa đạo đức Phật giáo mê tín đó được các nhà sư đặt tên là Tịnh Ðộ Tông và biên soạn những bộ kinh sách phát triển thường ca ngợi và khuyến khích tín đồ tu tập pháp môn niệm Phật A Di Ðà, vì pháp môn đó hợp với thời đại mạt pháp.

Nhóm Tế Bào Não Bộ Ý Thức (LinhHồn) Một người đang thức và đang làm một việc gì đó, hay đang tư duy suy nghĩ về một vấn đề gì, thì nhóm tế bào não thuộc về ý thức hoạt động, làm việc. Khi chúng đang ngủ thì toàn bộ nhóm tế bào thuộc về ý thức chắc chắn phải ngưng hoạt động, ví dụ như lúc ngủ mắt không thấy vật, tai không nghe âm thanh, ý không phân biệt, v.v...khi nhóm tế bào não bộ thuộc về ý thức hoạt động thì không vượt qua được không gian và thời gian, vì thế khoảng cách vách và cách xa nữa như ngăn sông, cách núi, hoặc dưới lòng đất, dưới đáy biển đại dương v.v... thì nhóm tế bào não bộ thuộc về ý thức không thể thấy biết được. Về thời gian, nó bị chia cắt làm ba thời gian: quá khứ, vị lai và hiện tại. Quá khứ đã qua nó không nhớ biết hết được, vị lai thì nó mờ mịt không rõ.

Nhóm Tế Bào Não Bộ Tưởng Thức (LinhHồn) do nhóm tế bào não bộ tưởng thức này hoạt động nên người ta mới có chiêm bao. Khi nhóm tế bào não bộ thuộc về Tưởng Thức hoạt động thì nó vượt qua hàng rào không gian và thời gian, nên thời gian không còn chia cắt và không gian không còn trải dài vì thế nó bắt gặp, hay nói cách khác là giao cảm, với những gì đã xảy ra ở thời gian quá khứ và thời gian vị lai.

Nhớ đến niệm ác (ĐườngVề.8) có nghĩa là một niệm ác tự trong tâm khởi ra ngoài ý muốn của chúng ta.


VIẾT TẮT CÁC SÁCH

(CầnBiết.1)=Người Phật Tử Cần Biết 1; (CầnBiết.2)=Người Phật Tử Cần Biết 2; (CầnBiết.3)=Người Phật Tử Cần Biết 3; (CầnBiết.4)=Người Phật Tử Cần Biết 4; (CầnBiết.5)=Người Phật Tử Cần Biết 5; (ChùaAm)=Lịch Sử Chùa Am; (CưSĩTu)=Những Chặng Đường Tu Học Của Người Cư Sĩ; (ĐạoĐức.1)=Đạo Đức Làm Người.1; (ĐạoĐức.2)=Đạo Đức Làm Người.2; (ĐườngRiêng)=Đạo Phật Có Đường Lối Riêng; (ĐườngVề.1)=Đường Về Xứ Phật 1; (ĐườngVề.10)=Đường Về Xứ Phật 10; (ĐườngVề.2)=Đường Về Xứ Phật 2; (ĐườngVề.3)=Đường Về Xứ Phật 3; (ĐườngVề.4)=Đường Về Xứ Phật 4; (ĐườngVề.5)=Đường Về Xứ Phật 5; (ĐườngVề.6)=Đường Về Xứ Phật 6; (ĐườngVề.7)=Đường Về Xứ Phật 7; (ĐườngVề.8)=Đường Về Xứ Phật 8; (ĐườngVề.9)=Đường Về Xứ Phật 9; (GiớiĐức.1)=Giới Đức Làm Người 1; (GiớiĐức.2)=Giới Đức Làm Người 2; (LinhHồn)=Linh Hồn Không Có ; (MuốnChứngĐạo)=Muốn Chứng Đạo Phải Tu Pháp Nào; (OaiNghi)=Hỏi Đáp Oai Nghi Chánh Hạnh; (PhậtDạy.1)=Những Lời Gốc Phật Dạy 1; (PhậtDạy.2)=Những Lời Gốc Phật Dạy 2; (PhậtDạy.3)=Những Lời Gốc Phật Dạy 3; (PhậtDạy.4)=Những Lời Gốc Phật Dạy 4; (TâmThư.1)=Những Bức Tâm Thư 1; (TâmThư.2)=Những Bức Tâm Thư 2; (TạoDuyên)=Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sanh; (TêNgưu)=Sống Một Mình Như Con Tê Ngưu Một Sừng; (ThanhQuy)=Thanh Quy Tu Viện Chơn Như; (ThiềnCănBản)=Thiền Căn Bản 1; (ThờiKhóa)=Thời Khóa Tu Tập; (TrợĐạo)=37 Phẩm Trợ Đạo; (TruyềnThống.1)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.1; (TruyềnThống.2)=Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống.2; (YêuThương.1)=Lòng Yêu Thương 1; (YêuThương.2)=Lòng Yêu Thương 2; (10Lành)=Hành Thập Thiện; (10Lành)=Sống 10 Điều Lành; (12Duyên)=12 Cửa Vào Đạo; (3Quy5Giới)=Tam Quy Ngủ Giới; (4BấtHoại)=Tứ Bất Hoại Tịnh; (8QuanTrai)=Nghi thức thọ bát quan trai.

***

Đang có 18 khách và không thành viên đang online

Lượt xem
450
Các bài viết
1441
Số lần xem các bài viết
7798861